Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 87/2024/DS-ST

Ngày: 10/09/2024

“V/v: Tranh chấp phát sinh từ Hợp

đồng sử dụng thẻ tín dụng”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Hiệp

Bà Chu Thị Hà

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án quận Hoàn Kiếm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 133/DSST ngày 19/6/2024, về việc “Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” - theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2024/QĐST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

Địa chỉ: B - B N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1) do ông Lê Ngọc T - Chức vụ: Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật. (Theo giấy ủy quyền số 2535A/2022/UQ-PL ngày 12/10/2022).

Ông T ủy quyền tham gia tố tụng cho: Ông Nguyễn Thanh H - Chức vụ: Ngân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Theo giấy ủy quyền số 4683/2024/UQ-TGĐ ngày 19/6/2024) (Ông H có mặt)

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thúy H1, sinh năm 1994

Hộ khẩu thường trú: 02 ngõ P, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội - (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại Đơn khởi kiện và các Bản tự khai, Đơn trình bày tại Toà án, ông Nguyễn Thanh H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S trình bày:

Ngày 13/6/2019 chị Nguyễn Thúy H1 có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của chị H1, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số thẻ 472075 - 3088 với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, chị H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 78.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng Thẻ từ ngày kích hoạt Thẻ đến trước thời điểm chuyển quá hạn, chị H1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 40.000.000 đồng (Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau).

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng chị H1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do chị H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/12/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Lãi suất quá hạn: 2.6%/tháng x 150% = 3.9%/tháng.

Tính đến ngày 31/7/2024, chị H1 còn nợ Ngân hàng tổng cộng số tiền là 139.401.953 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu, bốn trăm linh một nghìn, chín trăm năm mươi ba đồng), trong đó: nợ gốc là 43.728.452 đồng; lãi quá hạn là 95.673.501 đồng.

Vì vậy, Ngân hàng đã có đơn khởi kiện chị Nguyễn Thúy H1 đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, đề nghị Tòa án giải quyết những nội dung sau:

  1. Buộc chị Nguyễn Thúy H1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 139.401.953 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu, bốn trăm linh một nghìn, chín trăm năm mươi ba đồng), trong đó: nợ gốc là 43.728.452 đồng; lãi quá hạn là 95.673.501 đồng.

    Lãi suất qua hạn được tính trên số tiền nợ gốc 43.728.452 đồng.

    Lãi suất ngày: (nợ gốc x lãi suất thẻ x 150%)/30 ngày = (43.728.452 đồng x 2.6% x 150%)/30 = 56.847 đồng.

    Số ngày quá hạn: Từ ngày 23/12/2019 đến ngày 10/7/2024 = 1.683 ngày

    Số tiền nợ lãi quá hạn = lãi ngày x số ngày = (71.330 đồng x 12 ngày) + (60.580 đồng x 65 ngày) + (56.280 đồng x 69 ngày) + (49.830 đồng x 69 ngày) + (41.230 đồng x 1.921 ngày) = 56.847 đồng x 1.683 ngày = 95.673.501 đồng.

  2. Buộc chị Nguyễn Thúy H1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

* Bị đơn - chị Nguyễn Thúy H1: đã được Tòa án tổng hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để chị H1 biết những vấn đề cụ thể mà Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời triệu tập chị H1 đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn. Tuy nhiên, chị H1 không có mặt theo thông báo triệu tập của Tòa án để viết bản tự khai, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng, không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ, không chứng minh để tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, không đưa ra yêu cầu phản tố, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa. Do chị H1 không thực hiện nghĩa vụ của đương sự nên phải chịu hậu quả theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng giao nộp và do Tòa án thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông H trình bày:

Nguyễn đơn Ngân hàng TMCP S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày ở trên, đề nghị Tòa án buộc chị Nguyễn Thúy H1 phải trả cho Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 10/9/2024 là là 141.728.452 đồng, trong đó nợ gốc là 43.728.452 đồng; lãi quá hạn là 98.004.228 đồng.

Buộc chị H1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 11/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

* Bị đơn chị Nguyễn Thúy H1: đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản, thông báo, quyết định hợp lệ. Tòa án đã hoãn phiên tòa lần 1. Tại phiên tòa lần 2, bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Buộc chị Nguyễn Thúy H1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền là 141.728.452 đồng, trong đó nợ gốc là 43.728.452 đồng; lãi quá hạn là 98.004.228 đồng.

Bị đơn chị Nguyễn Thúy H1 còn phải tiếp tục trả khoản lãi phát sinh cho Ngân hàng theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng, kể từ ngày kế tiếp của ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày chị H1 thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật và thủ tục tố tụng:

1.1 Về thẩm quyền:

Xét thấy: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm là nơi giải quyết tranh chấp theo nơi đăng ký nhân khẩu thường trú của bị đơn chị Nguyễn Thúy H1 tại địa chỉ số B ngõ P, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

1.2 Về quan hệ pháp luật:

Ngân hàng TMCP S khởi kiện chị Nguyễn Thúy H1 yêu cầu Tòa án tuyên chị H1 phải trả số tiền nợ gốc và lãi theo các Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết. Số tiền tranh chấp phát sinh từ các Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết giữa các bên. Do đó quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

1.3 Về thủ tục tố tụng:

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thúy H1: theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn chị Nguyễn Thúy H1 có khẩu thường trú tại địa chỉ số B ngõ P, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xác minh Công an phường H cung cấp cho Tòa án biết: “chị Nguyễn Thúy H1; sinh năm 1994 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số B ngõ P, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Hiện chị H1 không còn ăn ở, sinh hoạt tại đây, đã chuyển đi đâu không rõ”. Đến nay, chị H1 đi đâu không rõ mà không thông báo nơi cư trú mới cho nguyên đơn và cơ quan, người có thẩm quyền là thuộc trường hợp “cố tình giấu địa chỉ” theo điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quy định: “trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung” và xác định địa chỉ số B ngõ P, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội là địa chỉ cư trú cuối cùng của chị H1 theo quy định tại khoản 3 Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Bị đơn chị Nguyễn Thúy H1 không đến Tòa án. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các Thông báo, quyết định của Tòa án yêu cầu chị H1 đến Tòa án làm việc và các Quyết định, Thông báo khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để triệu tập đương sự nhưng chị H1 vẫn vắng mặt không có lý do tại tất cả các buổi làm việc của Toà án. Do chị H1 không thực hiện nghĩa vụ của đương sự nên phải chịu hậu quả theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng giao nộp và do Tòa án thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

Tòa án đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào hồi 13h30' ngày 21/8/2024 nhưng bị đơn chị H1 vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã có Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử vụ án vào hồi 13h30' ngày 10/9/2024. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn chị H1 vẫn vắng mặt không có lý do.

Đồng thời, Tòa án đã áp dụng Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự để nguyên đơn tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về thời gian tham gia phiên tòa, nhưng Ngân hàng có Văn bản về việc từ chối đăng tin. Tòa án đã tiến hành thủ tục đăng tin trên cổng thông tin điện tử của Tòa án về thời gian mở phiên tòa, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn chị Nguyễn Thúy H1 vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị H1 là có căn cứ và đúng quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung và hiệu lực của Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng:

Ngày 13/6/2019 chị H1 có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của chị H1, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số 472075 - 3088, với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Hai bên ký hợp đồng tự nguyện, người ký kết là người có thẩm quyền và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo pháp luật. Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng như cam kết.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, chị H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 78.000.000 đồng. Chị H1 đã thanh toán cho Ngân hàng 40.000.000 đồng (Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở, gia hạn tạo điều kiện nhưng chị H1 vẫn không có thiện chí trả nốt khoản nợ cho Ngân hàng. Do chị H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của chị H1 vào ngày 23/12/2019 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Lãi suất quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 43.728.452 đồng là 3.9%/tháng (150% lãi suất trong hạn):

Lãi suất qua hạn được tính trên số tiền nợ gốc 43.728.452 đồng

Lãi suất ngày: (nợ gốc x lãi suất thẻ x 150%)/30 ngày = (43.728.452 đồng x 2.6% x 150%)/30 = 56.847 đồng

Số ngày quá hạn: Từ ngày 23/12/2019 đến ngày 10/9/2024 = 1.724 ngày

Số tiền nợ lãi quá hạn là: 56.847 đồng x 1.724 ngày = 98.004.228 đồng.

Tính đến ngày xét xử 10/9/2024 chị H1 còn nợ Ngân hàng tổng cộng cả gốc và lãi là là 141.728.452 đồng, trong đó nợ gốc là 43.728.452 đồng; lãi quá hạn là 98.004.228 đồng.

Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc chị H1 phải trả cho Ngân hàng toàn bộ khoản tiền nợ gốc và tiền lãi quá hạn như Ngân hàng đã tính toán nêu trên theo Hợp đồng các bên đã cam kết và buộc chị H1 phải tiếp tục chịu lãi suất cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.

Từ căn cứ và nhận định nêu trên, xét yêu câu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận. Buộc chị Nguyễn Thúy H1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 141.728.452 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu, bảy trăm hai mươi tám nghìn, bốn trăm năm mươi hai đồng), trong đó nợ gốc là 43.728.452 đồng; lãi quá hạn là 98.004.228 đồng;

Chị H1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi suất tính từ ngày 11/9/2024 đến khi chị H1 tất toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn chị Nguyễn Thúy H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 179; Điều 180; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 429; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Điều 90; Điều 91; Điều 95; Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng;
  • - khoản 3 Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • - Điều 2; Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn chị Nguyễn Thúy H1, về việc “Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng”.
  2. Buộc bị đơn chị Nguyễn Thúy H1 phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 10/9/2024 là 141.728.452 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu, bảy trăm hai mươi tám nghìn, bốn trăm năm mươi hai đồng), trong đó:
    • + Nợ gốc là 43.728.452 đồng;
    • + Nợ lãi quá hạn là: 98.004.228 đồng;

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, kể từ sau ngày tuyên án sơ thẩm theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi tất toán xong toàn bộ số nợ.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bị đơn chị Nguyễn Thúy H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 7.087.000 đồng (Bảy triệu, không trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
    2. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại nguyên đơn Ngân hàng TMCP S 3.169.000 đồng (Ba triệu, một trăm sáu mươi chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp theo Biên lai số 0006565 ngày 18/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
  4. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt ông Nguyễn Thanh H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thúy H1.

Tòa án báo cho nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn chị Nguyễn Thúy H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSNDQHK;
  • - Các đương sự;
  • - THADSQHK;
  • - TANDTPHΝ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hiền Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp phát sinh từ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 87/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S. và chị Nguyễn Thúy H1. tranh chấp phát sinh từ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger