|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/7/2024 V/v Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Thế Huệ
2. Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 44/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐ-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1988 (Có mặt)
HKTT: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Số C H, H, Đài Loan
Bị đơn: Anh Phạm Thanh T, sinh năm 1985 (Có đơn xin xử vắng mặt)
HKTT: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Thanh T kết hôn với nhau năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng bố mẹ chồng tại thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vì kinh tế nhưng vì các con nên cả hai đã phải nhẫn nhịn để tiếp tục chung sống. Đến tháng 06 năm 2022, chị L đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Thời gian đầu hai vợ chồng còn liên lạc với nhau để hỏi thăm tình hình học tập của con cái nhưng từ đầu năm 2023 đến nay, hai bên đã cắt đứt mọi liên lạc. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
- Về con chung: Chị L và anh T có 02 con chung là cháu Phạm Vũ P, sinh ngày 29/7/2009 và cháu Phạm Thảo L1, sinh ngày 20/10/2013. Nguyện vọng của chị L khi ly hôn sẽ tôn trọng ý kiến của các con. Nếu được chị đề nghị nuôi cả 02 con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản, công nợ: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, bị đơn anh Phạm Thanh T trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị L kết hôn với nhau năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị L nợ nần không rõ nguyên nhân. Vợ chồng cũng không cãi vã gì nhau. Sau một thời gian làm lụng trả được một số nợ nhưng kinh tế gia đình vẫn còn khó khăn nên đến tháng 6 năm 2022, vợ chồng quyết định để chị L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan để kiếm tiền trả nợ và trang trải kinh tế trong gia đình. Nhưng khi sang Đài Loan thì chị L chỉ gửi tiền về trung bình mỗi tháng hơn 1 triệu đồng, không đủ cho con ăn học. Sau khi chị L đi xuất khẩu lao động thì tình cảm vợ chồng không còn mặn mà, ít liên hệ với nhau. Nay chị L có đơn xin ly hôn, anh T thấy tình cảm vợ chồng không còn, có níu kéo cũng không hạnh phúc nên anh T đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Vũ P, sinh ngày 29/7/2009 và cháu Phạm Thảo L1, sinh ngày 20/10/2013. Hiện nay các cháu đang ở với anh, do anh chăm sóc. Nguyện vọng của anh T khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản và công nợ: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn anh T; Về con chung, chị L đồng ý giao cả hai con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; Chị L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 2.500.000đ/1 tháng kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi các cháu thành niên.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ : Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57, Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Q: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị L, cho chị L được ly hôn với anh Phạm Thanh T.
Về con chung: Giao 02 con chung của vợ chồng là cháu Phạm Vũ P, sinh ngày 29/7/2009 và cháu Phạm Thảo L1, sinh ngày 20/10/2013 cho anh Phạm Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 2.500.000đ/1 tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Tại Đơn khởi kiện, chị Trần Thị L trình bày hiện chị đã đi xuất khẩu lao động và đang sinh sống tại số C H, H, Đài Loan. Tại Công văn số 12164/QLXNC-P3 ngày 12/6/2024 của Cục Q1 - Bộ C, cung cấp cho Tòa án thông tin: Chị Trần Thị L đã sử dụng hộ chiếu số C9859467 để xuất cảnh ngày 12/6/2022 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là anh Phạm Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Toà án căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vắng mặt anh T.
[2] Về hôn nhân:
Chị Trần Thị L và anh Phạm Thanh T kết hôn năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vì kinh tế.
Theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chung xây cuộc sống, hạnh phúc gia đình, nhưng hiện nay chị L đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, cắt đứt liên lạc với anh T, vợ chồng không có điều kiện gần gũi và không còn tình cảm, trách nhiệm với nhau.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã phân tích, động viên chị L nên suy nghĩ kỹ trước khi quyết định việc ly hôn nhưng chị L vẫn cương quyết xin ly hôn anh T. Anh T cũng có ý kiến đồng ý ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh T không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó nếu buộc anh, chị về đoàn tụ thì cuộc sống vợ chồng cũng không thể cải thiện được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị L về việc xin ly hôn anh Phạm Thanh T.
[3] Về con chung: Chị L và anh T thống nhất có 02 con chung là cháu Phạm Vũ P, sinh ngày 29/7/2009 và cháu Phạm Thảo L1, sinh ngày 20/10/2013. Tại biên bản lấy lời khai, hai cháu đều có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Xét thấy: Anh T có nguyện vọng được nuôi cả hai con còn chị L đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài, chị L cũng đồng ý giao 02 con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng nên HĐXX thấy việc giao 02 con chung chưa thành niên của vợ chồng cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo cuộc sống ổn định cũng như phù hợp với nguyện vọng của 2 cháu và đúng với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung. Chị L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 2.500.000đ/ tháng. Đây là nguyện vọng chính đáng, đảm bảo việc chăm sóc nuôi dạy và học tập của các cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện này của chị L.
[5] Về tài sản: Chị L và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị L được ly hôn anh Phạm Thanh T.
- Về con chung: Công nhận chị Trần Thị L và anh Phạm Thanh T có 02 con chung là cháu Phạm Vũ P, sinh ngày 29/7/2009 và cháu Phạm Thảo L1, sinh ngày 20/10/2013. Giao cháu P và cháu L1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) 1 tháng kể từ tháng 7 năm 2024 đến khi cháu P và cháu L1 đủ 18 tuổi.
Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản: Chị L và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị L phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ đã nộp theo biên lai số 000216 ngày 21/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị L còn phải nộp tiếp số tiền 300.000đ.
Về quyền kháng cáo: Chị L có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Anh |
Bản án số 87/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 87/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Loan yêu cầu ly hôn anh Thu
