|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2024/HS - ST Ngày: 07 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Văn Hoan.
- Ông Nguyễn Quang Đạt.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu P - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST- HS ngày 23/4/2024 đối với bị cáo:
Trịnh Minh T, sinh ngày 22/8/1991 tại Ninh Bình.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; tạm trú: số 52B, ngách E, ngõ D đường Â, phường N, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Đình T1 và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Lê Thanh H (đã ly hôn), không có con; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023, tạm giam từ ngày 27/12/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam số II - Công an thành phố H. Có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trần Đức T2. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, tổ công tác Công an phường T làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phát hiện Trịnh Minh T đang đi bộ trước tòa chung cư C, phường T, quận T, thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Trịnh Minh T tự giác dùng tay lấy từ trong túi quần phía trước bên trái mà T đang mặc ra 02 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 2x3 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác, đồng thời khai nhận số tinh thể trong túi nilong trên là ma túy “đá” của T mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, niêm phong túi ma túy trên và đưa Trịnh Minh T về trụ sở cơ quan công an để tiếp tục điều tra làm rõ.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 02 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 2x3cm, bên trong mỗi túi chứa tinh thể màu trắng.
- - 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng xám đã qua sử dụng, lắp sim số 0367.329.614, số IMEI: 357763861350801.
Tại bản kết luận giám định số 8426/KL - KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,376 gam.
Bản Cáo trạng số 53/CT-VKS-TX ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Truy tố bị cáo Trịnh Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm: vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Minh T từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2023, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- - Về các biện pháp tư pháp: đề nghị áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín niêm phong có chữ ký giám định viên Trương Trọng V, cán bộ C1 - Trịnh Ngọc H1, bị cáo Trịnh Minh T, người chứng kiến Trần Đức T2 và đóng dấu của Công an phường T, bên trong có 02 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 2x3 cm, bên trong chứa 0,331 gam ma túy Methamphetamine (thu giữ ban đầu là 0,376 gam; PC09 - C2 trích mẫu 0,045gam).
- + Trả lại bị cáo Trịnh Minh T 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng xám đã qua sử dụng, số IMEI: 357763861350801, bên trong lắp sim số 0367.329.614.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đã rất ăn năn về hành vi phạm tội của mình. Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đối với vụ án đều hợp pháp.
[2] Đánh giá về hành vi của bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Minh T đều khai nhận: khoảng 08 giờ ngày 18/12/2023, bị cáo có lên mạng xã hội vào một nhóm để tìm mua ma túy sử dụng. Sau đó, có một người đồng ý bán ma túy cho bị cáo và bị cáo hẹn ra đầu ngõ D đường  để giao ma túy. Một lúc sau, có một người nam giới đeo khẩu trang đến ship cho bị cáo một túi đồ, bị cáo hiểu đó là ma túy đá và lấy số tiền 1.100.000 đồng ra để thanh toán như đã thỏa thuận. Sau khi lấy ma túy, bị cáo về nhà lấy một ít ra sử dụng, số còn lại bị cáo cho vào 02 túi nilon nhét vào túi quần bên trái và bắt xe ôm xuống T để xử lý công việc. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày khi bị cáo đang đi bộ đến trước tòa chung cư C, phường T, quận T, thành phố Hà Nội thì bị Cơ quan Công an kiểm tra hành chính. Bị cáo đã tự nguyện lấy ra 02 túi ma túy giao nộp và được Cơ quan Công an đưa về trụ sở làm rõ.
Lời khai của bị cáo cũng phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường T, quận T thành phố Hà Nội lập hồi 12 giờ 00 ngày 18 tháng 12 năm 2023 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 8426/KL - KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận:
Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,376 gam.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 18/12/2023, tại trước tòa chung cư C, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Trịnh Minh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,376 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Hành vi của bị cáo Trịnh Minh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Bản cáo trạng số 53/CT-VKS-TX ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.
[3] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình thức xử lý đối với bị cáo:
- - Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình học tập tại trường Đại học S bị cáo đã được trường Đại học S tặng nhiều Giấy khen và trong quá trình sinh sống tại địa phương gia đình bị cáo được chính quyền địa phương tặng nhiều Bằng khen và Giấy khen. Vì vậy, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý và các chất gây nghiện, làm mất trật tự, an toàn xã hội. Chất ma túy gây nguy hại đến sức khoẻ con người, ma túy cũng là mầm mống phát sinh các loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, tạo nên nhiều bức xúc trong quần chúng nhân dân. Những năm qua Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đấu tranh, ngăn chặn đối với các tội phạm về ma tuý, nhiều cuộc vận động, tuyên truyền về tác hại của ma tuý đã được tổ chức, rất nhiều tội phạm về ma tuý đã bị pháp luật trừng trị, nhưng bị cáo Trịnh Minh T không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại sử dụng trái phép chất ma túy, dẫn đến đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do vậy, hành vi của bị cáo phải bị xử lý thật nghiêm theo quy định. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp thì mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay và giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Do bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng của vụ án, đồ vật đã thu giữ và các vấn đề khác:
- - Đối với 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong chứa ma túy là vật nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax đã thu giữ của bị cáo. Xét thấy, đây là tài sản cá nhân của bị cáo, bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- - Đối với người đã bán ma túy và người giao ma túy cho bị cáo T, bị cáo khai mua của một người không quen biết trên mạng xã hội và người giao ma túy cho T đeo khẩu trang, bị cáo không nhớ biển kiểm soát. Sau khi mua được ma túy bị cáo đã thoát khỏi nhóm trên mạng xã hội, xóa nội dung nói chuyện, không nhớ tên nhóm và tài khoản Facebook của người bán ma túy, Cơ quan Điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ những người trên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- - Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Trịnh Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Trịnh Minh T 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2023.
- Về các biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín niêm phong có chữ ký giám định viên Trương Trọng V, cán bộ C1 - Trịnh Ngọc H1, bị cáo Trịnh Minh T, người chứng kiến Trần Đức T2 và đóng dấu của Công an phường T, bên trong có 02 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 2x3 cm, bên trong chứa 0,331 gam ma túy Methamphetamine (thu giữ ban đầu là 0,376 gam; PC09 - C2 trích mẫu 0,045gam).
- - Trả lại bị cáo Trịnh Minh T 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng xám đã qua sử dụng, số IMEI: 357763861350801, bên trong lắp sim số 0367.329.614.
- (Tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân).
- Về án phí: bị cáo Trịnh Minh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo Trịnh Minh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lưu Thị Hồng Vân |
Bản án số 87/2024/HS - ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 87/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trịnh Minh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
