|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87 /2024/DS-ST Ngày 05 tháng 9 năm 2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Thông
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xoa và ông Hoàng Minh Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu – Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 220/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T1. (Ghi tắt là S)
Địa chỉ: Tòa nhà G, số E L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Olena K. Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Châu Ngọc P, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
- Ông Lê Văn T, sinh năm 2000. Địa chỉ: A B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
(Theo Giấy ủy quyền số 0080/2024/UQ-TGĐ ngày 18.01.2024; Giấy ủy quyền số 0267/2024/UQ-SHBFC ngày 05.5.2024 và Hợp đồng ủy quyền số 176/2024/UQ-TT ngày 29.5.2024, ông Lê Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Bà Lương Thị N, sinh năm: 1979
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số C D, tổ A, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 5 năm 2024, các Bản tự khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Văn T trình bày:
- Ngày 11/07/2020, bà Lương Thị N có ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng vay số 112007211901817 với Công ty T1 để vay số tiền 31.800.000 đồng với lãi suất 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại Hợp đồng, bà N có trách nhiệm thanh toán số tiền là 1.638.000 đồng/tháng (gồm cả gốc và lãi) vào trước hoặc đúng ngày 11 hàng tháng, thanh toán trong vòng 36 tháng.
- Thực hiện Hợp đồng, bà N đã nhận đủ số tiền vay để tiêu dùng cá nhân và đã thanh toán cho Công ty T1 với số tiền 4.879.000 đồng. Tuy nhiên, kể từ ngày 16/12/2021, bà Lương Thị N không thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào, dù Công ty T1 đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Điều này là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của Bên vay theo Hợp đồng và quy định của pháp luật hiện hành.
- Do đó, Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
- Buộc bà Lương Thị N phải thực hiện thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ tạm tính đến ngày 05/9/2024 là 104.866.819 đồng gồm: nợ gốc là 30.481.429 đồng, L trong hạn là 8.883.722 đồng; Lãi quá hạn (tính từ ngày 01/7/2021 đến ngày 05/9/2024) là 65.501.668 đồng.
- Buộc bà Lương Thị N phải thanh toán khoản lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn, các loại phí từ ngày 06/9/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký.
Bị đơn bà Lương Thị N đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định nhưng bà N không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 và cũng không đến Tòa án để giải quyết vụ việc.
Tại phiên tòa,
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn trình bày ý kiến giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
Bị đơn – bà Lương Thị N đã được triệu tập để tham gia tố tụng nhưng bà N vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý và Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn được đảm bảo kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về nội dung, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Công ty T1, buộc bị đơn – bà Lương Thị N phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng vay mà hai bên đã ký kết;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe các đương sự trình bày và tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã niêm yết các văn bản tố tụng và Giấy triệu tập cho bị đơn – bà Lương Thị N đến Tòa án để lấy lời khai, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà N đều vắng mặt và không có lý do gì về việc vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai và hòa giải về nội dung tranh chấp trong vụ án.
Tại phiên tòa, ông Lê Văn T – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn - bà Lương Thị N vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
Xét tính hợp pháp của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 112007211901817 ngày 11/7/2020 và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
Hợp đồng được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, do hai bên tự nguyện giao kết nên các hợp đồng này là hợp pháp. Do vậy, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ các thỏa thuận đã cam kết trong các hợp đồng.
Mặc dù bà Lương Thị N vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của S. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do S cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 112007211901817 mà bà Lương Thị N ký kết với S để vay tiền với mục đích tiêu dùng cá nhân theo hình thức trả góp hằng tháng với lãi suất 3,75%/tháng. Theo thỏa thuận tại Hợp đồng, bà N có trách nhiệm thanh toán cho S trong vòng 36 tháng, mỗi tháng phải thanh toán số tiền 1.638.000 đồng (bao gồm gốc và lãi) vào trước hoặc đúng ngày 11 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, theo thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký, S đã giải ngân cho bà N đủ số tiền vay là 31.800.000 đồng. Về phía bà Lương Thị N, sau khi được giải ngân đã thực hiện thanh toán được tổng số tiền 4.879.000 đồng. Trong đó, tiền gốc là 1.318.571 đồng; tiền lãi đã thanh toán 3.560.261 đồng; tiền lãi chậm trả đã thanh toán là 168 đồng.
- Từ ngày 16/12/2021 đến nay, bà N không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho S theo thỏa thuận trong hợp đồng mặc dù S đã nhiều lần nhắc nhở. Như vậy, bà N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ hàng tháng quy định tại Bản Điều khoản điều kiện đính kèm Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay. Tại phiên tòa, S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Lương Thị N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 05/9/2024 theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 112007211901817 ngày 11/07/2020 là 104.866.819 đồng gồm: nợ gốc là 30.481.429 đồng, L trong hạn là 8.883.722 đồng; Lãi quá hạn (tính từ ngày 01/7/2021 đến ngày 05/9/2024) là 65.501.668 đồng; Buộc bà Lương Thị N phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 06/9/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký là có cơ sở. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định của pháp luật tại các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự và Án lệ số 08/2016/AL chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Từ những phân tích và đánh giá trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[3] Về án phí:
Vì chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn bà Lương Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Công ty T1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 117, 463, và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Áp dụng Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số: 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty T1 đối với bà Lương Thị N.
Xử:
1. Buộc bà Lương Thị N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền nợ theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 112007211901817 ngày 11/07/2020, tạm tính đến ngày 05/9/2024 là 104.866.819 đồng gồm: nợ gốc là 30.481.429 đồng, L trong hạn là 8.883.722 đồng; Lãi quá hạn (tính từ ngày 01/7/2021 đến ngày 05/9/2024) là 65.501.668 đồng;
Buộc bà Lương Thị N phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 06/9/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bà Lương Thị N phải chịu là 5.243.340 đồng.
Công ty T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty T1 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 2.301.563 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000413 ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Minh Thông |
Bản án số 87/2024/DS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 87/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Công tài chính và Lương Thị N
