|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 87/2024/HSST Ngày: 03/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Minh Hòa
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Sỹ
- Bà Trần Thị Phối
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa là Thư ký Tòa án nhân dân
TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa:
Ông Dương Văn Nhất là Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXX-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Văn Đ, tên gọi khác: Không, sinh ngày 24/10/1981 tại tỉnh Bình Định; HKTT: Tổ B, khu V, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe ôm; Trình độ văn hóa: 5/12; tên cha: Phan Văn Đ1, sinh năm 1938; tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1946; Vợ: Lâm Thị T (đã ly hôn), có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 29/8/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 02/10/2018; Ngày 17/10/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 15/7/2020; Ngày 27/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 15/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt với bản án ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, chấp hành xong ngày 19/7/2023; Nhân thân: Ngày 01/8/2008, bị Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
2
Ngày 24/2/2012, bị Công an phường T, TP Q xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 05/12/2012, bị Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị bắt tạm giam từ ngày 17/12/2023; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Q; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1969; trú tại: thôn T, xã B,
huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Phạm Văn T2, sinh năm 1995; trú tại: thôn N, xã
Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17/12/2023, Phan Văn Đ điều khiển xe mô tô 77L1 – 445.30 đến gửi ở tầng hầm Bệnh viện Đa khoa tỉnh B rồi đi bộ vào các khu vực của bệnh viện để tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, Đ đi dạo trên hành lang trước khoa Ngoại Thần Kinh Cột Sống thì thấy chị Nguyễn Thị Kim T1 đang nằm ngủ trên sàn hành lang, túi quần bên trái để 01 cái điện thoại di động. Đạm quan sát xung quanh không có ai nên đi đến lấy 01 (Một) điện thoại di động S A13 (có ốp lưng bằng nhựa và sau ốp lưng có 01 tờ tiền mệnh giá 2 USD) trong túi chị T1 rồi rời đi. Trên đường đi từ khoa Ngoại Thần kinh - Cột sống ra khuôn viên phía trước bệnh viện, Đ tháo 02 sim điện thoại vứt đi và xóa dữ liệu điện thoại để tránh người khác phát hiện. Sau đó, Đ tiếp tục đi dạo đến Căn tin Bệnh viện Đa khoa tỉnh B để tìm tài sản trộm cắp thì bị anh Phạm Văn T2 đứng gần đó phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên trình báo Công an phường T.
Ngày 22/12/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố Q kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy A13, màu xanh dương, dung lượng 128GB, số IMEI (khe 1): 354690578784910; số IMEI (khe B): 355864868784979, đã qua sử dụng; có trị giá là 5.100.000 đồng (Năm triệu một trăm ngàn đồng); 01 (Một) ốp lưng điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy A13, bằng nhựa màu trắng và viền màu tím, đã qua sử dụng; có trị giá là 30.000 đồng (Ba mươi ngàn đồng). Tổng cộng số tiền: 5.130.000 đồng (Năm triệu một trăm ba mươi ngàn đồng).
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an T đã tạm giữ và trả lại cho chị T1: 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy A13, màu xanh dương, đã qua sử dụng), 01 ốp lưng điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy A13 (bằng nhựa màu trắng và viền màu tím, đã qua sử dụng), 01 tờ tiền mệnh giá 2 đô la Mỹ.
3
Hiện còn đang tạm giữ: 01 xe mô tô biển số: 77L1-445.30 (loại Honda Air Blade, màu sơn: Đen - Cam, đã qua sử dụng).
Trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Kim T1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác.
Bản Cáo trạng số 81/CT – VKSQN ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố Phan Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Phan Văn Đ có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, vào ngày 17/12/2023, Phan Văn Đ đã thực hiện hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A13, ốp lưng bằng nhựa, 01 tờ tiền mệnh giá 2 đô la Mỹ, tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 5.177.766 đồng (Năm triệu một trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm sáu mươi sáu đồng) của chị Nguyễn Thị Kim T1. Hành vi trên của Phan Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự nên Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố. Bị cáo có nhân thân xấu, có 04 tiền án chưa được xoá án tích, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “người phạm tội thành khẩn khai báo” nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù. Về phần Dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Trả lại 01 xe mô tô biển số: 77L1-445.30 (loại Honda Air Blade, màu sơn: Đen - Cam, đã qua sử dụng) cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo không bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Tòa giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về
4
hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà nên đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Phan Văn Đ có đầy đủ sức khỏe, có trình độ học vấn, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo biết rõ tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, bản thân bị cáo trước đây đã nhiều lần chấp hành hình phạt tù đều về tội “Trộm cắp tài sản”, sau khi trở về địa phương vẫn không lấy đó làm bài học răn đe, tu dưỡng bản thân để trở thành công dân tốt, chỉ vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, không quản lý tài sản của bị hại mà vào khoảng 01 giờ sáng ngày 17/12/2023, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (Một) điện thoại di động S A13 có ốp lưng bằng nhựa trị giá 5.130.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 2 USD của chị Nguyễn Thị Kim T1. Bị cáo có 04 tiền án chưa xoá án tích nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết “tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương nên cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Mặc dù bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên HĐXX áp dụng là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, vừa để bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa tội phạm, vừa đảm bảo mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[5] Về vật chứng: Trả lại 01 xe mô tô biển số: 77L1-445.30 (loại Honda Air Blade, màu sơn: Đen - C) cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
5
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND thành phố Quy Nhơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 17/12/2023.
- Trả lại cho bị cáo Phan Văn Đ 01 (một) xe mô tô biển số: 77L1-445.30, loại Honda Air Blade, màu sơn: Đen - Cam, số máy: JF27E0339927, số khung: RLHJF1809AY296328, đã qua sử dụng (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03/5/2024); Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Nơi nhận:
|
- TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND Tp. Quy Nhơn; - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn; - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn; - CQ THAHS CA Tp. Quy Nhơn; - Nhà tạm giữ; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Văn Thị Minh Hòa |
Bản án số 87/2024/HSST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 87/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bi cáo trộm tài sản trị giá 5.100.000 đồng
