TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH BẠC LIÊU ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 87/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02/8/2024
Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Liệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Ông Nguyễn Thành Nhạn
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Ông Phạm Hoàng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 260/2024/TLST-HN ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trương Thị Lan A, sinh năm 1997 (có yêu cầu vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Trương Thị Lan A và anh Nguyễn Quốc V chung sống vào năm 2020, có đăng ký kết hôn ngày 29/01/2021 tại UBND phường A1, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện.
Nguyên nhân ly hôn do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cự cải và xích mích dẫn đến mâu thuẫn ngày càng lớn, cả hai người không giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ, mỗi người sống cho riêng mình, không ai quan tâm đến ai.
Nay xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Trương Thị Lan A yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 26/12/2020 hiện nay đang sống với chị Trương Thị Lan A, chị Trương Thị Lan A yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Lan A không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Anh Nguyễn Quốc V vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử, nên không ghi nhận được ý kiến của anh Nguyễn Quốc V đối với yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Lan A.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Trương Thị Lan A được ly hôn anh Nguyễn Quốc V.
Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc Thiên K cho chị Trương Thị Lan A tiếp tục nuôi, không đặt ra việc cấp dưỡng cho con do chị Trương Thị Lan A không yêu cầu, anh Nguyễn Quốc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã G.
Chị Trương Thị Lan A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Quốc V được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Chị Trương Thị Lan A và anh Nguyễn Quốc V chung sống vào năm 2020, có đăng ký kết hôn ngày 29/01/2021 tại UBND phường A1, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện.
Nguyên nhân ly hôn do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cự cải và xích mích dẫn đến mâu thuẫn ngày càng nhiều, cả hai người không giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ, mỗi người sống cho riêng mình, không ai quan tâm đến ai là vi phạm Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình, căn cứ vào biên bản làm việc ngày
01/6/2024 cho thấy, anh Nguyễn Quốc V có địa chỉ cư trú tại: Khóm A, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
Xét thấy, hôn nhân của chị Trương Thị Lan A và anh Nguyễn Quốc V lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Trương Thị Lan A yêu cầu ly hôn là phù hợp, căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho chị Trương Thị Lan A ly hôn anh Nguyễn Quốc V.
[3] Về con chung: Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 26/12/2020 hiện nay đang sống với chị Trương Thị Lan A, cháu K còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ, nên giao con cho chị Trương Thị Lan A tiếp tục nuôi là phù hợp. Chị Trương Thị Lan A không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết;
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Lan A không yêu cầu, Nguyễn Quốc V vắng mặt, không ghi nhận được ý kiến nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH chị Trương Thị Lan A phải chịu theo quy định của pháp luật.
Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2] Về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị Lan A ly hôn anh Nguyễn Quốc V.
[3] Về con chung: Giao con tên Nguyễn Ngọc Thiên K cho chị Trương Thị Lan A tiếp tục chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Trương Thị Lan A không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết; anh Nguyễn Quốc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Trương Thị Lan A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, chị Trương Thị Lan A đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo
biên lai thu tiền số 0008756 ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã G được chuyển thu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tất Liệt |
Bản án số 87/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 87/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Lan Anh - Nguyễn Quốc Việt
