|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2024/HSST Ngày: 02/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi
Bà Nguyễn Thị Luận
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/HSST-QĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Đỗ Văn Đ, sinh năm 1972; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Y, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; có vợ: Nguyễn Thị T và 03 con (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không.
D chỉ bản số 160 do Công an huyện C lập ngày 07/3/2024; Tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được tại ngoại tại địa phương (có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Văn D1, sinh năm 1965; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Y, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Đỗ Thị P1 (đều đã chết); có vợ: Trần Thị T1 và 03 con (lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2004); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 31/8/1992, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Cố ý gây thương tích. Đã nộp án phí HSST và bồi thường dân sự (đã xóa án)
D chỉ bản số 161 do Công an huyện C lập ngày 07/3/2024; Tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được tại ngoại tại địa phương (có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Văn T2, sinh năm 1967; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B1 và bà Đỗ Thị S (đều đã chết); có vợ: Nguyễn Thị Kim A và 02 con (lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 1999); tiền án, tiền sự: Không.
D chỉ bản số 159 do Công an huyện C lập ngày 07/3/2024; Tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được tại ngoại tại địa phương (có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Văn H, sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Y, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T3 và bà Đỗ Thị T4; có vợ: Nguyễn Thùy D2 và 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không.
D chỉ bản số 163 do Công an huyện C lập ngày 12/3/2023; Tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được tại ngoại tại địa phương (có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Văn C, sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Y, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B2 và bà Đỗ Thị N1; có vợ: Nguyễn Thị T5 và 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không.
D chỉ bản số 162 do Công an huyện C lập ngày 12/3/2023; Tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được tại ngoại tại địa phương (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 00 ngày 02/3/2024, Nguyễn Văn C (SN 1984), trú tại: thôn Y, xã Đ, huyện C, Tp ., gọi điện rủ Nguyễn Văn H (SN 1983), Nguyễn Văn D1 (SN 1965) ở cùng thôn và Nguyễn Văn T2 (SN 1967) trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện C, Tp . đến nhà Đỗ Văn Đ (SN 1972) ở thôn Y, xã Đ, huyện C, Tp . để đánh bạc dưới hình thức đánh tá lả được thua bằng tiền. Một lúc sau C, D1, H, T2 đến nhà Đ, C có nói với Đ “cho cháu chơi tí”, Đ đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà mình. Khi vào nhà Đ đã có 01 chiếc chiếu nhựa đã trải sẵn ở phòng khách, C lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân để sẵn trên bàn uống nước và cùng D1, H, T2 tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh tá lả được thua bằng tiền. Do thấy bộ tú lơ khơ đã cũ nên C bảo Đ đi mua hộ 01 bộ bài mới. Khi chơi quy định: mỗi người chơi được chia 9 quân bài, người chia bài thì được 10 quân bài, số bài còn lại thì để giữa chiếu để mọi người bốc bài, quá trình chơi nếu ai được bài ù thì mỗi người chơi phải trả 50.000 đồng và chi cho chủ nhà 10.000 đồng tiền để phục vụ nước thuốc, nếu ai bị bài móm (không có phỏm) thì phải trả cho người về nhất 40.000 đồng, nếu không có ai được bài ù thì so về điểm, ai ít điểm nhất thì thắng, còn lần lượt số điểm về thứ 2,3,4 thì phải trả lần lượt số tiền 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng cho người thắng, nếu ai bị ăn chốt thì phải trả 40.000 đồng cho người ăn quân chốt, người về nhất được chia bài. Quá trình đánh bạc do chưa có ai được bài ù nên Đ chưa được hưởng lợi số tiền nào. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 15 giờ 00 cùng ngày thì bị Đội CSHS Công an huyện C phối hợp với Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) chiếu nhựa, 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ E quân bài.
- Số tiền 14.860.000 đồng (mười bốn triệu, tám trăm sáu mươi nghìn đồng), trong đó: Tổng số tiền thu giữ dưới chiếu bạc là 140.000 đồng (một trăm bốn mươi nghìn đồng); thu giữ trên người của T2 số tiền là 3.150.000 đồng (ba triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng), trên người C là 1.040.000 đồng (một triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng), trên người H là 1.030.000 đồng (một triệu, không trăm ba mươi nghìn đồng), trên người Diêm là 9.500.000 đồng (chín triệu, năm trăm nghìn đồng).
Đối với số tiền 5.000.000 đồng thu trên người Nguyễn Văn D1, Cơ quan CSĐT đã điều tra làm rõ số tiền trên Diêm để riêng ở túi áo không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Ngày 01/5/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 1491 trả lại số tiền 5.000.000 đồng cho Nguyễn Văn D1 quản lý, sử dụng là có căn cứ.
Tại Cơ quan điều tra, các bị can đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:
- Đỗ Văn Đ: Là chủ nhà đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình, đi mua hộ 01 bộ bài tú lơ khơ mới để sử dụng đánh bạc.
- Nguyễn Văn C: Là người gọi điện rủ Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Văn T2 đến nhà Đỗ Văn Đ để đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi tá lả. C là người xin phép Đ cho đánh bạc và chuẩn bị bài. Quá trình đánh bạc, C mang số tiền 570.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Đến khi bị bắt C thắng được số tiền 510.000 đồng, C đút một số tiền vào túi quần và số tiền còn lại để dưới chiếu, thu tại chiếu bạc vị trí của C số tiền 50.000 đồng, thu giữ trên người số tiền 1.030.000 đồng.
- Nguyễn Văn D1: Khi tham gia đánh bạc, D1 mang theo 9.650.000 đồng, trong đó sử dụng số tiền 4.650.000 đồng vào mục đích đánh bạc, còn số tiền 5.000.000 đồng là tiền chị Trần Thị T1 (SN 1973, vợ D1) đưa cho D1 để đi mua cám chăn vịt, D1 để riêng (số tiền 5.000.000 đồng) ở túi áo và không sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc. Quá trình điều tra, lời khai của chị Trần Thị T1 phù hợp với nội dung D1 khai nhận. Quá trình đánh bạc, D1 thua số tiền 100.000 đồng. Khi bị bắt, D1 đút tiền vào túi và còn lại một số tiền dưới chiếu bạc, thu tại chiếu bạc vị trí của D1 số tiền 50.000 đồng, thu giữ trên người số tiền 9.500.000 đồng.
- Nguyễn Văn T2: Khi tham gia đánh bạc, T2 mang số tiền 3.140.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, quá trình đánh bạc thắng được 30.000 đồng. Khi bị bắt, T2 đút tiền vào túi và còn lại một số tiền dưới chiếu bạc, thu tại chiếu bạc vị trí của T2 số tiền 20.000 đồng, thu giữ trên người số tiền 3.150.000 đồng.
- Nguyễn Văn H: Khi tham gia đánh bạc, H mang số tiền 1.500.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc, H thua 440.000 đồng. Khi bị bắt, H đút tiền vào túi và còn một số tiền còn lại dưới chiếu, thu tại chiếu bạc vị trí của H số tiền 20.000 đồng, thu trên người số tiền 1.040.000 đồng.
Quá trình điều tra thu thập chứng cứ vụ án, có đủ cơ sở xác định tổng số tiền các bị can sử dụng vào mục đích đánh bạc là 9.860.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 24/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Đỗ Văn Đ - Nguyễn Văn D1 - Nguyễn Văn T2 - Nguyễn Văn H - Nguyễn Văn C về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo khai nhận toàn bộ diễn biến thực hiện hành vi và số tiền sử dụng đánh bạc như nội dung Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS, phạt: Đỗ Văn Đ - Nguyễn Văn T2 mỗi bị cáo từ 09 - 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 - 24 tháng.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS, phạt: Nguyễn Văn D1 từ 09 - 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 - 24 tháng.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS, phạt: Nguyễn Văn C từ 06 - 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 - 18 tháng.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 35 BLHS, phạt: Nguyễn Văn H từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu nhựa; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.860.000 đồng; Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 00 ngày 02/3/2024, Đội CSHS - Công an huyện C phối hợp với Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang tại nhà ở của Đỗ Văn Đ địa chỉ thôn Y, xã Đ, huyện C, Tp . gồm: Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Văn T2 đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức chơi tá lả. Tổng số tiền Cơ quan điều tra đã chứng minh được các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 9.860.000 đồng.
Đối với Đỗ Văn Đ không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng Đ đã có hành vi sử dụng nhà ở do mình quản lý và chuẩn bị công cụ như chiếu, bộ bài tú lơ khơ để cho các đối tượng đánh bạc, tuy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Gá bạc” hoặc tội “Tổ chức đánh bạc” nhưng hành vi của Đ đã cấu thành tội “Đánh bạc” với vai trò đồng phạm.
Hành vi của Đỗ Văn Đ - Nguyễn Văn D1 - Nguyễn Văn T2 - Nguyễn Văn H - Nguyễn Văn C đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 BLHS.
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Đỗ Văn Đ - Nguyễn Văn D1 - Nguyễn Văn T2 - Nguyễn Văn H - Nguyễn Văn C theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2] Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; hành vi đánh bạc của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội tạo dư luận xấu trong nhân dân cần xử lý nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục các bị cáo, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Bị cáo có vai trò tích cực: Đỗ Văn Đ là chủ nhà đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà của mình, đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ. Bị cáo là người phạm tội tích cực nên áp dụng hình phạt tù là phù hợp. Tuy nhiên, xét bị cáo nhân thân chưa có tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo mà không cần thiết phải cách ly với xã hội, nên áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện quy định tại Điều 65 BLHS đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với Nguyễn Văn D1 dùng 4.650.000 đồng đánh bạc. Nhân thân D1 có 01 tiền án về tội Cố ý gây thương tích nhưng đã xóa trên 20 năm. Diêm được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; bị cáo là lao động chính là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy D1 có khả năng tự cải tạo và cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Căn cứ Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và Điều 65 BLHS không cần thiết phải cách ly với xã hội mà áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo là phù hợp.
Nguyễn Văn T2 dùng 3.140.000 đồng đánh bạc; Nguyễn Văn C gọi điện rủ H, D1, T2 đến nhà Đ đánh bạc và dùng 570.000 đồng đánh bạc; Xét hai bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 BLHS (C có mẹ đẻ là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm Khoản 2 Điều 51 BLHS). Hai bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo mà không cần thiết phải cách ly với xã hội, nên áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện quy định tại Điều 65 BLHS đối với hai bị cáo là phù hợp.
Nguyễn Văn H dùng 1.500.000 đồng sử dụng vào đánh bạc. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là lao động chính; bố vợ của bị cáo được tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang quy định tại Điểm s, i Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nhân thân tốt nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo mà cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe.
[2.3] Xét hoàn cảnh và điều kiện kinh tế của các bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[2.4] Về vật chứng đã thu giữ:
- - 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu nhựa là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
- - 9.860.000 đồng là tiền các bị cáo đã và sẽ sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[2.5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Văn Đ - Nguyễn Văn D1 - Nguyễn Văn T2 - Nguyễn Văn H - Nguyễn Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, phạt:
- - Đỗ Văn Đ 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Nguyễn Văn T2 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, phạt:
- Nguyễn Văn D1 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, phạt:
- Nguyễn Văn C 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, phạt:
- Nguyễn Văn H 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Giao Đỗ Văn Đ - Nguyễn Văn D1 - Nguyễn Văn T2 - Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, Tp . giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ tú lơ khơ, mỗi bộ gồm 52 quân bài đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu nhựa đã qua sử dụng.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.860.000 đồng.
(Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2024; Toàn bộ số tiền trên hiện đang tạm giữ tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ tại K huyện C theo Ủy nhiệm chi vào tài khoản số 3949.0.1052753.00000 ngày 31/5/2024).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc Đỗ Văn Đ - Nguyễn Văn D1 - Nguyễn Văn T2 - Nguyễn Văn H - Nguyễn Văn C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Đỗ Văn Đ - N - Nguyễn Văn T2 - Nguyễn Văn H - Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Lợi |
Bản án số 87/2024/HSST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự: đánh bạc
- Số bản án: 87/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố các bị cáo phạm tội
