Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 87/2025/HSST

Ngày: 23-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Hoàng
- Và các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Thu An
Bà Hồ Thị Xuân Thiều

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Hạnh - Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 77/2025/HSST ngày 06 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Điểu Tấn K – sinh năm 2003 tại Bình Phước.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: S'Tiêng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 8/12.

Nơi thường trú: ấp B, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Nơi tạm trú: khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Con ông Trần Văn H (không rõ năm sinh) và bà Thị N, sinh năm 1985.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 (Ngày 29/11/2022, bị áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 31/QĐ-TA ngày 16/11/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành. Ngày 14/11/2023, chấp hành xong).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Thị N, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Điểu Tấn K là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng tháng 11/2024 thông qua mối quan hệ bạn bè ngoài xã hội K biệt người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực một chòi dùng để trú mưa trong lô cao su thuộc xã T, huyện H có bán ma túy nên đã nhiều lần đến để mua ma túy về sử dụng, mỗi lần K mua với giá 200.000 đồng đến 300.000 đồng, khi thanh toán K trả tiền mặt cho T. Khoảng đầu tháng 12/2024, K xin vào làm công nhân cho Công ty L; Địa chỉ: Khu công nghiệp B thuộc khu phố D, phường M, thị xã C. Do chưa có chỗ ở nên K xin ở chung phòng trọ với Đinh Văn T1 sinh năm 1991, nơi thường trú: Khu phố P, phường T, thành phố Đ tại phòng số TDC 18.45-46.6, nhà trọ “M" thuộc khu phố D, phường M, thị xã C. Khoảng 15 giờ ngày 04/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh, biển số 93P1 - 307.97 đi từ phòng trọ đến khu vực chòi trong lô cao su gặp T để mua ma túy. Khi gặp T, K nói T cầm cố xe mô tô biển số 93P1 - 307.97 với giá 800.000 đồng để mua ma túy, khoảng vài ngày sau K chuộc lại xe thì T đồng ý cầm xe rồi đưa ma túy cho K. Sau khi mua được ma túy K mang về phòng trọ cất giấu. Khoảng 17 giờ cùng ngày, thấy T1 đang ngủ nên K lên gác lấy ma túy đổ một ít vào bộ D sử dụng một mình, số ma túy còn lại cất giấu trong túi nhựa dạng thẻ đeo của Công ty và để trên gác. Đến khoảng 18 giờ ngày 07/12/2024, K tiếp tục lấy ma túy đổ một ít vào trong nỏ thủy tinh tiếp tục sử dụng, sau khi sử dụng ma túy xong K đi đến Công ty làm việc. Đến khoảng 05 giờ 30 ngày 08/12/2024, K thì tan ca làm đi về phòng trọ và gọi T1 dậy mở cửa cho K vào phòng. Khi vào phòng, do thấy T1 đang ngủ nên K tiếp tục lấy gói ma túy đổ ra một ít cho vào nỏ thủy tinh sử dụng một mình trên gác nhưng chưa sử dụng hết, số ma túy còn lại K tiếp tục cất giấu trong túi nhựa dạng thẻ đeo của Công ty và để tại nền gạch men trên gác rồi nằm ngủ. Đến khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra phòng trọ phát hiện bắt quả tang đối với K, đồng thời thu giữ niêm phong tang vật.

* Kết luận giám định số: 1375/KL-KTHS ngày 14/12/2024, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 1,0836 gam (Một phẩy không tám ba sáu gam).

- Chất màu nâu xám (ký hiệu M2) bám dính trong bầu tròn của ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,0090 gam (Không phẩy không không chín không gam).

H1 lại đối tượng giám định là: M1 = 0,8964 gam được niêm phong. Mẫu M2 đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

* Việc thu giữ đồ vật tài liệu và xử lý vật chứng:

- 01 (một) bì thư dán kín niêm phong ghi số 1375/M1/2024, chứa ma túy hoàn lại sau giám định; 01 (một) bì thư dán kín niêm phong ghi số 1375/M2/2024, chứa một nỏ thủy tinh hoàn lại sau giám định; 01 (một) chai nhựa loại chai nước ngọt Sting, trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đỏ; 01(một) quẹt gas; 01(một) cây kéo phần lưỡi kéo bằng kim loại, phần cán bằng nhựa màu xanh đây là vật chứng của vụ án.

- 01(một) túi nhựa dạng thẻ đeo, có gắn kim băng, bên trong túi nhựa có thẻ công nhân mang tên Điểu Tấn K là tư vật của K.

- Đối với xe mô tô biển số 93P1-307.97 là phương tiện Điểu Tấn K sử dụng để đi mua ma túy và sau đó cầm cố cho T số tiền 800.000 đồng để mua ma túy về sử dụng.

Hiện nay không xác định được nhân thân lai lịch của T nên không xác định được xe mô tô trên đang ở đâu nên không thu giữ được. Quá trình điều tra xác định: xe mô tô biển số 93P1-307.97 do bà Thị N, SN: 1985, Nơi thường trú: ấp B, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước (là mẹ ruột của K) đứng tên chủ sở hữu. Xe mô tô này được bà N mua năm 2019 và để cho gia đình sử dụng làm phương tiện đi lại. Đầu tháng 12/2024, Điểu Tấn K đi làm công nhân tại Khu công nghiệp B tọa lạc tại phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Do không có phương tiện đi lại nên bà N đưa xe mô tô trên cho K sử dụng. Việc K sử dụng xe mô tô làm phương tiện và cầm cố xe để mua ma túy thì bà N không biết. Bà N không có yêu cầu gì đối với xe mô tô trên nên không đề cập xử lý.

Tại bản cáo trạng số 79/CT-VKS- CT ngày 05/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Điểu Tấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Điểu Tấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Điểu Tấn K mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

  • Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
  • Lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Điểu Tấn K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng số 79/CTr-VKS- CT ngày 05 tháng 5 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng vụ án. Đồng thời phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát cùng các tài liệu, chứng cứ được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 08/12/2024, tại nhà trọ “M” địa chỉ: khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước, bị cáo Điểu Tấn K đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,0926 gam ma túy, loại Methaphetamine (ma túy đá) nhằm mục đích để sử dụng.

[3] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.

Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây hậu quả rất xấu đến sức khỏe con người và còn là nguyên nhân lây lan dịch bệnh HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội khác.

[4] Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ 1,0926 gam ma tuý (loại Methaphetamine) là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm trị nhưng chỉ vì tư lợi cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về sử dụng trái phép chất ma tuý chưa được xoá.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

[6] Về quyết định hình phạt:

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã được đưa đi cai nghiện nhưng vẫn tiếp tục có hành vi sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma tuý nên cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc bằng hình phạt tù mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Vật chứng vụ án: đối với 01 (một) bì thư dán kín niêm phong ghi số 1375/M1/2024, chứa ma túy hoàn lại sau giám định; 01 (một) bì thư dán kín niêm phong ghi số 1375/M2/2024, chứa một nỏ thủy tinh hoàn lại sau giám định; 01 (một) chai nhựa loại chai nước ngọt Sting, trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đỏ; 01(một) quẹt gas; 01(một) cây kéo phần lưỡi kéo bằng kim loại, phần cán bằng nhựa màu xanh là công cụ bị cáo phạm tội cân tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01(một) túi nhựa dạng thẻ đeo, có gắn kim băng, bên trong túi nhựa có thẻ công nhân mang tên Điểu Tấn K là công cụ của bị cáo đựng ma tuý không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với xe mô tô biển số 93P1-307.97 là phương tiện Điểu Tấn K sử dụng để đi mua ma túy và sau đó cầm cố cho T số tiền 800.000 đồng để mua ma túy về sử dụng. Hiện nay không xác định được nhân thân lai lịch của T nên không xác định được xe mô tô trên đang ở đâu nên không thu giữ được. Quá trình điều tra xác định: xe mô tô biển số 93P1-307.97 do bà Thị N, SN: 1985, Nơi thường trú: ấp B, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước (là mẹ ruột của K) đứng tên chủ sở hữu. Xe mô tô này được bà N mua năm 2019 và để cho gia đình sử dụng làm phương tiện đi lại. Đầu tháng 12/2024, Điểu Tấn K đi

làm công nhân tại Khu công nghiệp B tọa lạc tại phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Do không có phương tiện đi lại nên bà N đưa xe mô tô trên cho K sử dụng. Việc K sử dụng xe mô tô làm phương tiện và cầm cố xe để mua ma túy thì bà N không biết. Bà N không có yêu cầu gì đối với xe mô tô trên nên không đề cập xử lý.

[9] Các vấn đề khác: Đối với Đinh Văn T1: Do K mới vào làm công nhân bộ phận lắp ráp bình ắc quy tại xưởng 1 Công ty L (KCN B) nên chưa có chổ ở vì vậy T1 cho K ở chung với mình tại phòng số TDC 18.45-46.6, nhà T thuộc khu phố D, phường M, thị xã C, trong quá trình sinh sống tại đây T1 không biết và không tham gia thực hiện hành vi phạm tội cùng với Điểu Tấn K. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đinh Văn T1 vào ngày 04/12/2024 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã có công văn và chuyển hồ sơ cho Công an phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ông Trương Sỹ X là quản lý nhà trọ “Miền Đông” trong quá trình Điểu Tấn K đến ở tại phòng trọ số TDC 18.45-46.6 ông X không biết K thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đối tượng tên T, theo lời khai của bị can Điểu Tấn K thì T là người nhiều lần bán ma túy cho K. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của T nên không có cơ sở để xử lý. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Điểu Tấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Điểu Tấn K 02 (Hai) năm tù. Hạn tù tính từ ngày 16/12/2024.

  3. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu huỷ:

    01 (một) bì thư dán kín niêm phong ghi số 1375/M1/2024, chứa ma túy hoàn lại sau giám định; 01 (một) bì thư dán kín niêm phong ghi số 1375/M2/2024, chứa một nỏ thủy tinh hoàn lại sau giám định; 01 (một) chai nhựa loại chai nước ngọt Sting, trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đỏ; 01(một) quẹt gas; 01(một) cây kéo phần lưỡi kéo bằng kim loại, phần cán bằng nhựa màu xanh; 01(một) túi nhựa dạng thẻ đeo, có gắn kim băng, bên trong túi nhựa có thẻ công nhân mang tên Điểu Tấn K.

  4. Về án phí: áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
  5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, được quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND- VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - THADS thị xã Chơn Thành;
  • - CA thị xã Chơn Thành (03 bản);
  • - Phòng P27 Công an Bình Phước
  • - TT Lý lịch tư pháp – Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Nguyên Hoàng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/HSST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 87/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Điểu Tấn iệt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger