|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH Bản án số: 87/2025/HS-ST Ngày 21/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cáp Văn Dũng
- Ông Nguyễn Hồng Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tuyết Nhung, Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Chiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1994; HKTT: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Hà Giang; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N (Đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1973; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Có vợ Nguyễn Thị U, sinh năm 1998 và 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 8/7/2024 đến ngày 27/8/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Có mặt.
- Trần Quốc T, sinh năm 1996; HKTT: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Hà Giang; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 8/7/2024 đến ngày 27/8/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Có mặt.
- Mã Văn Đ, sinh năm 2000; HKTT: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mã Văn T2, sinh năm 1976 và bà Lương Thị D, sinh năm 1975; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Có vợ: Mông Quỳnh N1, sinh năm 2000 và 01 con sinh năm 2023;
1
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2024 đến ngày 27/8/2024 thì được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Có mặt.
- Nguyễn Văn C1, sinh năm 1995; HKTT: Khu V, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1977; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Có vợ: Trần Thị T4, sinh năm 1999 và 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/8/2024 đến nay. Có mặt.
- Nguyễn Văn K, sinh năm 1993; HKTT: Khu X, phường B, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1971; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; Có vợ: Đào Thị H2, sinh năm 1998 và 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/01/2025 đến nay. Có mặt.
- Nguyễn Văn T5, sinh năm 1992; HKTT: Khu X, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T6 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1961; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Có vợ Nông Thị M1, sinh năm 1988 và 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/8/2024 đến nay. Có mặt.
- Phạm Thế K2, sinh năm 2004; HKTT: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Thế H3, sinh năm 1977 và bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1982; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 5/9/2024 đến nay. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo K: Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1971; HKTT: Khu X, phường B, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đ: Bà Nguyễn Thị C2, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL tỉnh B. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo K2: Bà Đặng Thị H4, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL tỉnh B. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lương Văn S, sinh năm 1997, HKTT: Thôn Y, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Anh Ngân Văn T7, sinh năm 1992, HKTT: xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1994, HKTT: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Hà Giang và Lương Văn S, sinh năm 1997, HKTT: Thôn Y, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang cùng làm công nhân tại Công ty TNHH A (Công ty A) có địa chỉ tại KCN Q, tỉnh Bắc Ninh có mâu thuẫn với nhau liên quan đến công việc của công ty.
Tối ngày 05/7/2024, khi cả hai đang làm ca đêm tại Công ty thì H gọi S ra cửa nhà xưởng và hỏi “mày nói gì tao trên nhóm” thì S trả lời “tại anh chửi em trên nhóm”. Thấy S nói vậy, H nhặt một chiếc gậy gỗ hình tròn dài khoảng 50 cm cạnh nhà xưởng vụt vào tay, lưng S.
Do bực tức vì bị H đánh nên S đã nhắn tin qua zalo cho Nguyễn Văn C1, sinh năm 1995, HKTT: Khu V, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn T5, sinh năm 1992, HKTT: Khu X, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn K, sinh năm 1993, HKTT: Khu X, phường B, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh và kể cho Phạm Văn K3, sinh năm 2004, HKTT: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An về việc S bị H đánh và nhờ các đối tượng 7 giờ sáng ngày 07/7/2024 đến cổng Công ty A để giải quyết mâu thuẫn với H cùng S. Khi nhắn tin cho K, S bảo K có đồ gì thì mang đi (tức có hung khí gì thì mang đi để đánh H) thì K chụp ảnh một con dao (loại dao rựa, phần chuôi dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại) rồi gửi qua zalo cho S. Thấy vậy, S nhắn lại “dùng hàng nhẹ nhẹ thôi” tức mang loại hung khí khác có tính sát thương nhẹ hơn, thì K đồng ý.
Khoảng 6 giờ 30 ngày 07/7/2024, K điều khiển xe mô tô từ nhà qua đón C1 rồi đi đến Công ty A. Khi đi, C1 lấy một chiếc gậy rút bằng sắt dài 26cm, bên ngoài bọc nhựa trong tủ quần áo rồi để vào túi đeo chéo, đeo ra sau lưng. Khi mang đi Chính không nói cho các đối tượng khác biết. Khoả không mang theo hung khí gì. Khi C1 và K đến cổng công ty đứng đợi thì thấy có S, K3 tan làm ca đêm từ công ty AAC ra đứng đợi H ở cổng cùng K và C1. Mấy phút sau thì T5 đến. Cả nhóm đứng đợi H khoảng 20 đến 30 phút nhưng không thấy H đi ra nên C1, K và T5 đi vào công ty A làm việc ca ngày như bình thường, còn S và K3 đi về. Cả nhóm hẹn nhau 19 giờ 30 phút cùng ngày tiếp tục ra cổng công ty A để tìm đánh H. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/7/2024, C1, K và Thơi tan làm ra cổng thì đã thấy S và K3 đứng đợi ở cổng công ty. Cả nhóm đứng đợi H ở cổng công ty A để đánh H.
Khoảng 19h30 ngày 07/7/2024, H đến công ty A làm việc ca đêm thì được Mã Văn Đ, sinh năm 2000, HKTT: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (là bạn làm cùng Công ty với H cũng đến công ty làm ca đêm) nhắn tin cho H bảo có nhóm của S đang đứng đợi ở cổng công ty AAC chờ đánh H. Thấy vậy, H vào xưởng chấm công rồi đi ra qua cửa phụ của công ty để đến quán N3 ở khu C, phường V, thành phố B ngồi uống nước.
Trước đó, Đ biết việc H và S có mâu thuẫn với nhau và nhóm của S đã đứng đợi H ở cổng công ty để đánh H từ sáng nhưng không gặp nên khi đi làm Đ có lấy
3
ở phòng trọ 01 con dao gọt hoa quả dài khoảng 18cm, đầu dao nhọn, bản rộng khoảng 2cm, chuôi dao hình tròn màu đen. Khi mang đi, Đoàn bọc lưỡi dao bằng giấy vệ sinh rồi đút vào túi quần bên phải để nếu đánh nhau với nhóm của S thì sử dụng. Đoàn vào Công ty A chấm công rồi nhắn tin cho H hỏi H đang ở đâu để Đ ra. H nhắn lại cho Đ là đang ở quán nước D nên Đ ra quán nước Duy L ngồi uống nước với H.
Khi ngồi ở quán nước, H gọi điện cho Trần Quốc T, sinh năm 1996, HKTT: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Hà Giang (bạn của H) bảo T ra quán nước Duy L có mấy thằng dọa đánh H và bảo T có gì thì mang đi để nếu có đánh nhau thì dùng, T đồng ý. T hiểu là H bảo T mang theo hung khí nên đã lấy ở phòng trọ 02 con dao, loại dao chặt (01 con dao có phần chuôi bằng kim loại dài 10cm, lưỡi dao dài 28cm, bản rộng 7cm và 01 con dao chuôi bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao dài khoảng 30cm) gài ở xe mô tô của T rồi đi ra quán nước D. Khi đến, T có nói với H về việc T mang theo 02 con dao đang để ở xe của T.
Khi H, T và Đ đang ngồi uống nước thì H gọi điện cho Nguyễn Văn T8, sinh năm 1994, HKTT: Thôn V, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (làm cùng công ty với H) hỏi xem nhóm của S về chưa thì T8 trả lời không thấy nhóm của S ở cổng công ty. Sau đó, T8 tự đi đến quán N3 gặp H, T và Đ. Cả nhóm ngồi uống nước tại đây.
Nhóm của S sau khi đợi ở cổng công ty A khoảng 30 phút không thấy H ra thì mọi người thống nhất đi về. K3 đi bộ về trước, S cũng đi bộ về phòng trọ. K điều khiển xe mô tô chở C1, T5 điều khiển xe một mình đi về. Trên đường về phòng trọ, K3 đi qua quán N3 ở khu C, phường V, thành phố B thì thấy H đang uống nước tại đây. Thấy vậy, K3 gọi điện cho Ngân Văn T7, sinh năm 1992, HKTT: xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nhờ T7 gọi cho T5 và S báo H đang ở quán N3 (do K3 không lưu số điện thoại của T5 và S). Mục đích K3 gọi để T5, C1, K và S quay lại quán nước Duy L đánh H. Sau đó, K3 cũng đi bộ ra ngã tư gần quán nước để đợi nhóm của mình vào quán nước Duy L giải quyết mâu thuẫn với H giúp S. T7 gọi cho T5 bảo K3 nhờ thông báo là H đang ở quán N3. Lúc này, C1 và K đang đi cùng T5 nên T5, C1 và K cùng quay lại quán N3 thì gặp K3 đang đứng đợi ở ngã tư gần đó. Cả 04 người đi trên 02 xe mô tô đến quán N3.
Khoảng 20h ngày 07/7/2024, C1, K, T5 và K3 đến quán N3. Lúc này, H, Đ và Nguyễn Văn T8 đang ngồi ở bàn uống nước còn T đứng dậy đi ra ngoài cửa. Khi đến nơi, C1, K, T5 tiến vào bàn chỗ H ngồi, K3 đứng ở cửa ra vào. Mục đích K3 gọi mọi người đến là để giải quyết mâu thuẫn với H giúp S. Tuy nhiên, khi đến quán do C1, K, T5 trực tiếp vào đánh H rồi nên K3 chỉ đứng ngoài hỗ trợ. Tại đây, C1 hỏi H “mày đánh thằng S em tao phải không” thì H trả lời “Ừ, giờ mày thích thế nào”. Thấy H nói vậy, C1 liền dùng tay không đấm vào đầu H, cùng lúc này K và T5 cũng dùng tay chân không lao vào đấm H. Nguyễn Văn T8 thấy mọi người đánh nhau vì không muốn liên quan nên bỏ chạy ra phía ngoài cửa quán N3. Bị đánh, H lấy được chiếc điếu cày dài 66cm bằng tre màu đen cạnh bàn uống nước, cầm vụt về phía người Chính, C1 dơ tay ra đỡ. Thấy vậy, T5 nhảy vào ôm H, K
4
giằng điếu cày của H. Sau khi giằng được điếu cày, K cầm điếu cày vụt vào người Hùng thì bị H giật lại. Lúc này, T5 đang ôm đánh H nên không biết việc K giằng được điếu cày của H để vụt lại H. Thấy H cầm điếu cày, C1 rút gậy rút bằng sắt từ túi đeo trước ngực ra vụt khoảng 5-6 cái vào tay H làm H bỏ chạy hướng ra phía ngoài cửa. Thấy H bỏ chạy, C1, K và T5 đuổi theo dồn H vào góc tường trong quán cách chỗ H ngồi uống nước ban đầu khoảng 3m rồi dùng chân, tay không đánh H. Thấy H bị đánh, Đ lấy 01 con dao loại dao gọt hoa quả mang đi từ trước chạy đến chỗ C1, khi cách C1 khoảng 1m thì Đ cầm dao ở tay phải đâm một nhát hướng từ sau ra phía trước trúng vào vùng sườn lưng bên trái của C1 (lúc này C1 đang đứng hướng mặt về phía H để dồn H vào góc tường, lưng quay ra ngoài). Khi bị đâm, C1 lùi ra phía sau còn T5 vẫn đang ôm đánh H. Đoàn tiếp tục dùng dao đâm 02 nhát theo hướng từ sau ra phía trước vào vùng lưng của T5. Còn T khi thấy H bị nhóm của C1 dồn vào góc tường cũng chạy ra xe mô tô lấy 02 con dao mang đi từ trước cầm mỗi tay một con dao rồi quay lại chỗ H. Do H đứng cạnh cửa sổ nên T đưa cho H con dao chuôi gỗ. Thấy H có dao nên C1 và K bỏ chạy thì H cầm dao ở tay trái, cầm điếu cày ở tay phải đuổi theo K chạy ra ngoài đường. Thấy H cầm dao và điếu cày đuổi theo K, C1 cầm gậy rút đuổi theo H. T thấy vậy cũng cầm con dao chuôi bằng kim loại ở tay phải đuổi theo sau C1. Thơi thấy mọi người đuổi nhau thì đi theo ra cửa nhưng do bị đâm nên T5 gục ngã ngay trước cửa quán N3. Khi đuổi kịp C1 đến đoạn đường cách quán N3 khoảng 4-5m, T dùng sống dao đập vào vùng lưng bên phải của C1 02 cái sau đó không đuổi theo C1 nữa mà cầm dao đứng lại bên đường. H đuổi K đến đoạn đường cách quán N3 khoảng 7-8 m thì dùng điếu cày vụt với về phía Khỏa trúng vào vùng đầu phía sau của K. Khỏa bị đánh thì quay lại vật lộn bằng chân tay không với H. Lúc này, C1 đuổi kịp đến nơi nên cũng lao vào vật lộn với H. Quá trình vật lộn, H vẫn cầm dao nên khi H vung dao thì đã cứa vào ngón tay út bàn tay trái của K và ngón tay trỏ bàn tay phải của C1. Khi vật lộn H làm rơi điếu cày, C1 làm rơi gậy rút xuống đất. Sau đó, H vùng dậy được vung tay làm C1 bị ngã ngồi tại chỗ. Thấy H vùng dậy trên tay vẫn cầm dao nên K bỏ chạy lên phía trước. H tay cầm dao đứng chỉ về phía C1 bắt C1 nhặt gậy rút đưa cho H và nói “mày vừa đánh tao phải không” thì C1 trả lời “Tao còn chưa động vào người mày đâu đấy” và xin H không đánh nữa nên H cầm dao và gậy rút bỏ đi. Đúng lúc này H nhìn thấy K đang quay lại nên H cầm dao chỉ về phía Khoả. Thấy vậy, K cũng xin không đánh nữa nên H thôi. Sau đó, H cầm gậy rút và con dao chuôi gỗ đi ra chỗ để xe thì làm rơi gậy rút ở chỗ để xe, còn con dao H gài ở xe mô tô rồi đi về phòng trọ. Khi đi qua ao gần cổng chào phường V, H vứt con dao chuôi gỗ xuống ao. Đoàn sau khi đâm C1 và T5 xong đi về phòng trọ cất xe rồi đi bộ ra cạnh bờ ao Lãm Làng vứt dao gọt hoa quả xuống ao. T sau khi dùng sống dao đập vào lưng C1 thì mang con dao chuôi sắt về phòng trọ cất giấu dưới gầm giường. Quá trình các đối tượng đánh nhau, K3 thấy nhóm của mình dồn đánh được H vào góc tường nên chỉ đứng quan sát. Khi thấy T5 bị đâm và sự việc diễn ra nhanh nên K3 chỉ kịp đến chỗ T5 bị gục ngã xem vết thương của Thơi thế
5
nào và đưa T5 đi bệnh viện.
Đối với Lương Văn S, sau khi đợi H ở cổng công ty A không gặp thì đi bộ về nhà trọ. Trên đường về, S vào quán tạp hóa gần phòng trọ mua đồ. Tại đây, S gặp T8, T8 có nói cho S biết việc K3 gọi cho T8 nhờ T8 báo cho S và T5 về việc H đang ở quán N3. Thấy vậy, S có nhờ T8 chở ra quán N3 xem thế nào. T8 chở S đến ngã tư gần quán N3 thì để S xuống đi bộ vào, còn mình quay về đi mua cơm cho vợ. Khi S đến nơi thì đã thấy T5 bị đâm nằm gục ở đường. H đang cầm dao chỉ về phía C1. S cùng K3 đưa đi Thơi đi bệnh viện cấp cứu.
Ngay sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, cơ quan Công an đã tiến hành triệu tập các đối tượng đến làm việc. Tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố B, H, T, Đ, C1, T5, K và K3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Sau khi sự việc xảy ra, các cơ quan chức năng thuộc địa bàn xã P, thành phố B có đơn phản ánh đến Cơ quan điều tra đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng theo quy định pháp luật.
Sau vụ xô sát đánh nhau, T5, K, C1 bị thương được đưa đi điều trị tại bệnh viện, H bị xây sát vùng vai phải, cẳng tay phải.
Tại giấy chứng nhận thương tích số 36 ngày 24/9/2024 của Bệnh viện Đ2 đối với thương tích của Nguyễn Văn T5: Vết thương thận phải, Vết thương thấu ngực phải.
Tại giấy chứng nhận thương tích số 27 ngày 24/9/2024 của Bệnh viện Đ2 đối với thương tích của Nguyễn Văn C1: Vết thương thấu ngực phải, vết đứt gân gấp ngón 2 bàn tay phải.
Tại giấy chứng nhận thương tích số 25 ngày 14/7/2024 của Bệnh viên đa khoa Kinh Bắc II đối với thương tích của Nguyễn Văn K: Gãy xương đứt gần rời vết 3 ngón 5 tay trái.
Ngày 14/10/2024 Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ % thương tích của bị can C1, K và T5. Sau khi có giấy hẹn của Trung tâm giám định pháp y, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã tiến hành dẫn giải các bị can đi giám định tỷ lệ phần trăm thương tích. Tuy nhiên C1, K, T5 có đơn xin từ chối giám định thương tích và không chấp hành việc dẫn giải của cơ quan Công an.
* Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là quán nước (ki ốt số 2) nhà ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1983 ở khu C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quán nước này có phía bắc giáp ki ốt số 1, qua ki ốt là nhà ông Phạm Văn H5, phía nam giáp ki ốt số 3, phía tây giáp phần nhà ở của ông Nguyễn Văn D1, phía đông giáp đường bê tông khu dân cư. Hiện trường các đối tượng đuổi đánh nhau được xác định kéo dài từ ki ốt số 2 quán nước D ra đến ngoài đường cách quán nước khoảng 10m.
* Về trưng cầu giám định: Quá trình điều tra Nguyễn Văn K đã giao nộp sổ điều trị bệnh trầm cảm, ngày 28/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra
6
Quyết định trưng cầu giám định số 2405 trưng cầu V1 giám định tâm thần đối với Nguyễn Văn K.
Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 06/KLGĐ ngày 10/01/2025 của V1 kết luận: “Trước, trong khi xảy ra sự việc ngày 7/7/2024 và tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Văn K bị bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ, giai đoạn bệnh nhân thuyên giảm. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã F31.0. Tại thời điểm trên đối tượng đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi”.
Ngày 14/10/2024 Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra Quyết định trưng cầu giám định 02 file video (lưu giữ trong 01 đĩa DVD) trích xuất từ hệ thống camera ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ xô xát đánh nhau ngày 7/7/2024 tại quán N3 có bị cắt ghép, chỉnh sửa không.
Tại bản kết luận giám định số 2539/KL-KTHS ngày 30/10/2024 của phòng K4 Công an tỉnh B kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp video mẫu cần giám định”.
* Vật chứng thu giữ:
- - Thu giữ tại hiện trường 01 gậy rút bằng kim loại, dài 26cm, bên ngoài bọc nhựa, 01 điều cày màu đen dài 66cm
- - Tạm giữ của Trần Quốc T 01 con dao loại dao chặt bằng kim loại, phần chuôi dao dài 10cm, lưỡi dao dài 28cm, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh, số IMEI 35118332432541 lắp sim số 0393.242.437 và 0374.719.969
- - Tạm giữ của Mã Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia E5-00 màu đen, lắp sim số 0398736848; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, số IMEI 352048885823719 lắp sim số 0799268620.
- - Tạm giữ của Nguyễn Mạnh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng, số IMEI 357273090121957 lắp sim số 0326952999
- - Tạm giữ của Phạm Thế K2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1601 màu trắng hồng, số IMEI 863897036720790 lắp sim số 0356883107.
- - Tạm giữ của Nguyễn Văn T5 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1 màu đỏ, số IMEI 865498043876713.
- - Tạm giữ của Nguyễn Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime màu trắng hồng, số IMEI 357625084615361, lắp sim số 0936650293.
- - Tạm giữ của Nguyễn Văn C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu đỏ, số IMEI 359500089685156 lắp sim số 0934.229.707
- - Tạm giữ của Lương Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen, số IMEI 353900101719353.
- - Tạm giữ của Ngân Văn T7 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 màu xanh, số IMEI 861736062432445 lắp sim số 0967027440
- - Tạm giữ của anh Nguyễn Văn T9, sinh năm 1984, HKTT: Khu C, phường V, TP ., tỉnh Bắc Ninh 02 file video trích xuất từ camera trước cửa nhà anh T9 ghi lại hình ảnh vụ đánh nhau giữa các đối tượng, được lưu vào 01 đĩa DVD.
7
Đối với 01 con dao chuôi gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao dài khoảng 30cm, 01 con dao gọt hoa quả dài khoảng 18cm, đầu dao nhọn, bản rộng khoảng 2cm sau khi sử dụng để đánh nhau H và Đ đã vứt xuống ao; 01 chiếc gậy gỗ hình tròn dài khoảng 50 cm H dùng để đánh S vào tối 05/7/2024, sau khi đánh xong H vứt ở cạnh cửa nhà xưởng. Cơ quan Công an đã truy tìm những vật chứng này nhưng không thu giữ được.
* Về xử lý vật chứng: Ngày 08/7/2024 cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trả Mã Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia E5-00 màu đen; trả Lương Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen; trả Ngân Văn T7 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 màu xanh.
Với nội dung trên, Cáo trạng số: 33/CT-VKSTPBN ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Mã Văn Đ, Trần Quốc T, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn K về tội “Gây rối trật tự công công” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự và các bị cáo Nguyễn Văn T5 và Phạm Thế K2 về tội “Gây rối trật tự công công” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đều thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố là đúng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Lương Văn S trình bày: Anh có nhắn cho C1, T5, K đi cùng với anh đợi H ở trước cổng Công ty A để giải hòa.
Khoảng 19 giờ 30 phút sáng ngày 07/7/2024, S cùng với C1, T5, K, K2 đợi H ở cổng Công ty A. Đợi khoảng 20 đến 30 phút nhưng không thấy H thì cả nhóm giải tán. Thơi và C1 bảo đi về thì tất cả giải tán đi về. K2 đi bộ về trước, S đi bộ về phòng trọ, T5 cùng với C1 và K đi về cùng nhau. Trên đường anh về phòng trọ thì gặp T7 ở quán T10 phòng trọ, T7 có nói cho anh biết về việc K2 gọi cho T7 nhờ T7 báo cho anh về việc H đang ở quán N3. Anh có bảo T7 đợi anh khoảng 10 phút rồi T7 đưa anh đến quán N3 thì thấy T5 bị đâm nằm gục ở đường, H đang cần dao chỉ về phía Chính. Anh cùng K2 đưa T5 đi bệnh viện cấp cứu.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Ngân Văn T7 vắng mặt tại phiên tòa, lời khai trong quá trình điều tra thể hiện: T7 được K2 gọi điện nhờ báo cho S và T5 biết vị trí của H. T7 không biết việc K2 nhờ T7 báo cho S, T5 vị trí của H để nhóm này quay lại đánh H. Khi T7 gặp S ở cửa hàng T11 được S nhờ chở ra quán nước Duy L thì T7 chỉ chở đến ngã tư gần đó rồi S tự đi bộ vào, còn T7 đi về.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Mã Văn Đ, Trần Quốc T, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn K, Phạm Thế K2 và Nguyễn Văn T5 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- Nguyễn Mạnh H và Mã Văn Đ, mỗi bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
8
- Trần Quốc T và Nguyễn Văn C1, mỗi bị cáo từ 28 tháng đến 32 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 56 tháng đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Nguyễn Văn K từ 24 tháng đến 28 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 tháng đến 56 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- Nguyễn Văn T5 từ 13 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 26 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Phạm Thế K2 từ 12 đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 28 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 gậy rút bằng kim loại, dài 26cm, bên ngoài bọc nhựa, 01 điều cày màu đen dài 66cm; 01 con dao loại dao chặt bằng kim loại, phần chuôi dao dài 10cm, lưỡi dao dài 28cm; các sim số điện thoại 0393.242.xxx, 0374.719.969, 0799268620, 0326952999, 0356883107, 0936650293, 0934.229.707
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1601 màu trắng hồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1 màu đỏ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime màu trắng hồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu đỏ.
- -Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo Đ, K2. Các bị cáo còn lại mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST
Các bị cáo đều nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
Người bào chữa cho bị cáo K2 và bị cáo Đ đều nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; đề nghị cho bị cáo K2 và bị cáo Đ được hưởng mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong
9
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, của người làm chứng, với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Do có mâu thuẫn từ trước giữa Nguyễn Mạnh H và Lương Văn S nên nhóm của Nguyễn Văn C1 gồm C1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn T5 và Phạm Thế K2 đến gặp nhóm của H gồm H, Trần Quốc T và Mã Văn Đ tại quán nước D của gia đình anh Nguyễn Văn D1 ở khu C, phường V, thành phố B để giải quyết mâu thuẫn hộ S. Khoảng 20 giờ ngày 07/7/2024, các bị cáo C1, K, T5 và H đã có hành vi chửi bới, H và K dùng điếu cày cày bằng tre dài 66cm, C1 dùng gậy rút bằng kim loại dài 26cm đánh nhau trong quán. Sau đó, T sử dụng 01 con dao loại dao gọt hoa quả dài khoảng 18cm, đầu dao nhọn, bản rộng khoảng 2cm, Đ sử dụng 01 con dao loại dao chặt bằng kim loại, chuôi dao dài 10cm, lưỡi dao dài 28cm, H sử dụng 01 con dao loại dao chặt, chuôi dao bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao dài khoảng 30cm, C1 sử dụng 01 gậy rút dài 26cm bằng kim loại, bên ngoài bọc nhựa tiếp tục đuổi đánh nhau chạy ra ngoài đường trên đoạn đường dài khoảng 10m trong khoảng thời gian từ 7 đến 10 phút để đánh nhau. Hành vi của các bị cáo diễn ra ở khu vực đông dân cư, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của người dân, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Thơi biết việc đến quán nước cùng nhóm của C1 để giải quyết mâu thuẫn với nhóm của H giúp S. Khi thấy các đối tượng đánh nhau, T5 dùng chân tay không lao vào đánh H mà không biết C1 mang theo gậy rút, K giằng được điếu cày để đánh lại H. K2 biết mâu thuẫn giữa S và H. Khi biết nhóm của H đang ngồi ở quán nước đã chủ động điện thoại gọi nhóm của C1 đến quán nước đánh H để giải quyết mâu thuẫn cho S. Quá trình các đối tượng đánh nhau, K2 thấy nhóm của mình dồn đánh được H vào góc tường nên chỉ đứng quan sát. Khi thấy T5 bị đâm và sự việc diễn ra nhanh nên K2 chỉ kịp đến chỗ T5 bị gục ngã xem vết thương của T5 và đưa T5 đi bệnh viện.
Do đó, đã có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Mã Văn Đ, Trần Quốc T, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; các bị cáo Nguyễn Văn T5 và Phạm Thế K2 phạm tội “Gây rối trật tự công công” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã
10
truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây rối trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân nên cần phải có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công cụ thể từ trước.
Tuy nhiên, bị cáo C1 và bị cáo H là người trực tiếp lao vào đánh nhau, sử dụng hung khí nguy hiểm để tiếp tục đánh nhau, do đó vai trò của C1 và H cao nhất; Khi thấy C1 và H đánh nhau thì bị cáo K, T, Đ sử dụng hung khí nguy hiểm để tham gia đánh nhau giữa hai nhóm, vì vậy K, T, Đ giữ vai trò thấp hơn C1 và H. Bị cáo T5 dùng tay chân đánh H, K2 là người gọi nhóm của C1 đến quán nước để đánh H, như vậy T5 và K2 có vai trò thấp nhất.
[4] Về nhân thân của các bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Mã Văn Đ, Trần Quốc T, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn T5 và Phạm Thế K2 đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo T5 và K2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo K2 có ông nội là Phạm Ngọc C3 được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba;
Bị cáo C1 có thời gian phục vụ trong quân đội, có ông nội là Nguyễn Văn V là thương binh 2/4 đã được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương kháng chiến hạng ba, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhì, Huy chương chiến sỹ Điện Biên;
Bị cáo K có ông nội là Nguyễn Văn G được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và bà nội là Nguyễn Thị B được Chủ tịch UBND tỉnh B truy tặng bằng khen “Đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược”;
Bị cáo T5 được tặng giấy khen “Đã có thành tích xuất sắc trong công tác Đ và phong trào thanh thiếu nhi năm 2016”;
Các bị cáo H, T và Đ sau khi phạm tội đã tự nguyên ra đầu thú, đã bồi thường chi phí thuốc men khám chữa bệnh cho các bị cáo C1, K, T5.
Vậy các bị cáo C1, K, K2, H, T, Đ và T5 đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ
11
trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Liên quan trong vụ án:
- - Đối với Lương Văn S là người nhờ C1, K, T5 và K2 đi đánh H cùng S. Tuy nhiên, sau khi cả nhóm đợi ở cổng công ty AAC không thấy H thì thống nhất đi về. Việc C1, T5, K và K2 tìm đánh H tại quán nước S không biết và không tham gia. Khi S gặp Ngân Văn T7 ở quán tạp hóa và được T7 báo K2 vừa gọi cho T7 nói H đang ở quán nước D thì S mới nhờ T7 chở đến quán nước. Lúc này S chỉ nghĩ đến quán nước để xem sự việc như thế nào. Khi S đến thì việc đánh nhau đã kết thúc. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B không xem xét xử lý đối với S mà chỉ nhắc nhở là phù hợp.
- - Đối với Ngân Văn T7 là người được K2 gọi điện nhờ báo cho S và T5 biết vị trí của H. T7 không biết việc K2 nhờ T7 báo cho S, T5 vị trí của H để nhóm này quay lại đánh H. Khi T7 gặp S ở cửa hàng T11 được S nhờ chở ra quán nước Duy L thì T7 chỉ chở đến ngã tư gần đó rồi S tự đi bộ vào, còn T7 đi về mua cơm cho vợ. T7 không biết việc các đối tượng đang đánh nhau trong quán nước. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an T không xem xét xử lý đối với Ngân Văn T7 là phù hợp.
- - Đối với Nguyễn Văn T8, T8 được H gọi điện để hỏi xem nhóm của S còn đợi H ở cổng công ty AAC nữa không. H không rủ T8 ra quán nước Duy L để đánh nhau với nhóm của S. T8 tự ra quán nước ngồi uống nước với H. Việc T, Đ mang hung khí đi để đánh nhau T8 cũng không biết. Khi C1, K, T5 đến đánh nhau với H, T8 không tham gia đánh nhau mà chạy ra ngoài cửa quan nước. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an thành phố B không xem xét xử lý với Nguyễn Văn T8 là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với: 01 gậy rút bằng kim loại, dài 26cm, bên ngoài bọc nhựa, 01 điều cày màu đen dài 66cm; 01 con dao loại dao chặt bằng kim loại, phần chuôi dao dài 10cm, lưỡi dao dài 28cm; các sim số điện thoại 0393.242.xxx, 0374.719.969, 0799268620, 0326952999, 0356883107, 0936650293, 0934.229.707 là vật sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh, số IMEI 351183324325421, mặt kính bị dạn vỡ, máy đã qua sử dụng của bị cáo Trần Quốc T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, số IMEI 352048885823719, máy đã qua sử dụng của bị cáo Mã Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng, số IMEI 357273090121957 máy đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Mạnh H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1601 màu trắng hồng, số IMEI 863897036720790, máy đã cũ của bị cáo Phạm Thế K2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1 màu đỏ, số IMEI 865498043876713, máy đã cũ của bị cáo Nguyễn Văn T5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime màu trắng hồng, số IMEI 357625084615361, máy đã cũ của bị cáo Nguyễn
12
Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đỏ, số IMEI 359500089685156, máy đã cũ của bị cáo Nguyễn Văn C1; Là vật sử dụng vào việc phạm tội, vẫn còn giá trị sử dụng, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Trần Quốc T, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn T5 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Thế K2 thuộc gia đình hộ cận nghèo; Bị cáo Mã Văn Đ là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; Vì vậy, miễm án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo K2 và bị cáo Đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Mã Văn Đ, Trần Quốc T, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn T5 và Phạm Thế K2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- Các bị cáo Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Văn C1: mỗi bị cáo 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/2/2025.
- Các bị cáo Mã Văn Đ, Trần Quốc T và Nguyễn Văn K: mỗi bị cáo 28 (hai mươi tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 56 (năm mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/2/2025.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- Các bị cáo Nguyễn Văn T5 và Phạm Thế K2: mỗi bị cáo 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/2/2025.
- Giao các bị cáo Nguyễn Mạnh H và Trần Quốc T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Giao bị cáo Mã Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Giao các bị cáo Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Văn T5 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Giao bị cáo Nguyễn Văn K cho Ủy ban nhân dân phường B, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Giao bị cáo Phạm Thế K2 cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
13
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 gậy rút bằng kim loại, dài 26cm, bên ngoài bọc nhựa, 01 điều cày màu đen dài 66cm; 01 con dao loại dao chặt bằng kim loại, phần chuôi dao dài 10cm, lưỡi dao dài 28cm; các sim số điện thoại 0393.242.xxx, 0374.719.969, 0799268620, 0326952999, 0356883107, 0936650293, 0934.229.707.
-
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh, số IMEI 351183324325421 mặt kính bị dạn vỡ, máy đã qua sử dụng của bị cáo Trần Quốc T.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, số IMEI 352048885823719, máy đã qua sử dụng của bị cáo Mã Văn Đ.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng, số IMEI 357273090121957 máy đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Mạnh H.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1601 màu trắng hồng, số IMEI 863897036720790, máy đã cũ của bị cáo Phạm Thế K2.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1 màu đỏ, số IMEI 865498043876713, máy đã cũ của bị cáo Nguyễn Văn T5.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime màu trắng hồng, số IMEI 357625084615361, máy đã cũ của bị cáo Nguyễn Văn K.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đỏ, số IMEI 359500089685156, máy đã cũ của bị cáo Nguyễn Văn C1.
(Vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh)
Lưu hồ sơ vụ án 01 chiếc đĩa DVD.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Trần Quốc T, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn T5, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo Mã Văn Đ và Phạm Thế K2.
-
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Hồng Thanh | Cáp Văn Dũng | Vũ Thu Trang |
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thu Trang |
15
Bản án số 87/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 87/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
