|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2025/HS-ST Ngày 30 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thiên Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Long, nghề nghiệp: Giáo viên
Bà Nguyễn Thị Dung
– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn V, sinh ngày 30/4/2008
(tính đến ngày phạm tội là 16 tuổi 3 tháng 1 ngày) tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Thôn T, xã Đ (nay là xã T), huyện G, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn H, sinh năm 1988 và họ tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1990; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 144 Công an huyện G lập ngày 21/02/2025) Không.
Nhân thân: Ngày 17/5/2024, Công an xã Đ đưa V vào quản lý theo Nghị định 120/2021/NĐ-CP ngày 24/12/2021 của Chính phủ.
Bị cáo đầu thú và tạm giữ từ ngày 10/8/2024 đến ngày 13/8/2024 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo đang bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Bị cáo có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo V tại phiên tòa: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990; Nghề nghiệp: Tự do; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện G, thành phố Hà Nội. “Có mặt”
2. Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 25/8/2007
(tính đến khi phạm tội là 16 tuổi 11 tháng 6 ngày) tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Thôn G, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12 (hiện đang học lớp 12 trường THPT L1, N, G); Họ tên cha: Nguyễn Tường Q, sinh năm 1975 và họ tên mẹ: Hoàng Thị P, sinh năm 1982; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: không (Theo danh chỉ bản số 143 Công an huyện G lập ngày 21/02/2025).
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 10/8/2024 đến ngày 13/8/2024 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo đang bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Bị cáo có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của của bị cáo B tại phiên tòa: Ông Nguyễn Tường Q, sinh năm 1975, nghề nghiệp: Tự do; Nơi thường trú: Thôn G, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội. “Có mặt”
Người bào chữa cho bị cáo V và B: : Ông Lê Quang Đ – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. Địa chỉ: Nhà văn hóa huyện G, khu Cha thị trấn T, G, Hà Nội. “Có mặt, vắng mặt khi tuyên án”
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Vũ Văn T; sinh năm 2006;Nơi thường trú: Thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Số C thôn X, xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.
2. Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn G, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng ngày 29-30/7/2024, V điều khiển xe máy chở B đi chơi tại khu vực đường Đ thì bị 03 nam thanh niên không rõ tên tuổi đi trên cùng 1 xe máy dùng côn 3 khúc vụt vào tay gây thương tích. Do bực tức, V đã rủ B khi có cơ hội sẽ đi tìm 3 thanh niên trên để trả thù. Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 31/7/2024, Nguyễn Văn V rủ Nguyễn Hoàng B ra khu vực đường Đ chơi. B đồng ý và điều khiến xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen BKS: 29N1 - 690. 14 đến đường H, thị trấn Y, G, Hà Nội để đón V. Đi được một lúc thì V nói đường này có nhiều người giống người hôm trước mâu thuẫn với V và B nên V bảo B cùng về quán cắt tóc của V ở địa chỉ ngõ F đường H, thị trấn Y để lấy dao. Khi về đến quán thì B đứng ở ngoài chờ còn V đi vào quán lấy 01 con dao dài khoảng 50cm có cán bằng gỗ từ trong quán ra rồi đưa cho B cầm. V lái xe chở B ngồi phía sau tiếp tục đi ra đoạn đường Đ. Khi đi đến đoạn gần đình T xuyên thì V nói với B "anh ơi, có thằng giống thằng đánh anh em mình hôm trước". V vỗ vào đùi B và bảo cất điện thoại đi để lên chém thằng kia. Sau đó, V lái xe đuổi theo nam thanh niên tóc vàng đi xe wave màu xanh không đeo biển kiểm soát (sau này V biết là cháu Vũ Văn T). Khi đi đến đoạn đầu ngõ D, đường H, thị trấn Y, G, Hà Nội thì V và B đuổi kịp xe của T. B dùng tay phải, rút con dao mà V đã chuẩn bị từ trong bao giấy ra, chém 01 nhát trúng vào lưng T. T hoảng sợ, phóng xe bỏ chạy ngược chiều đường Đặng Công C hướng về Đ thì B bảo V "Đ.M đuổi theo". V điều khiển xe máy chở B đi với tốc độ nhanh, bấm còi inh ỏi, lạng lách đánh võng trên đường đuổi theo cháu T được khoảng 200m thì không đuổi được. Sau đó, V chở B đi về quán cắt tóc và giấu con dao ở bụi cây ven đường. Sau khi xảy ra vụ án, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, V và B đã đến Công an huyện G đầu thú.
Ngày 27/8/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với thương tích của Vũ Văn T và ra Quyết định dẫn giải cháu T đi giám định thương tích, tuy nhiên cháu T đã từ chối đi giám định thương tích và không chấp hành quyết định dẫn giải của CSĐT.
Tại Bản kết luận giám định số 6345/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: 01 con dao bằng kim loại gửi giám định không phải là vũ khí thô sơ.
Tại Bản kết luận giám định số 6487/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION đeo biển kiểm soát 29N1 – 690.14 có số khung: RLHJF5830JY15065 và số máy: JF86E – 2015250 là số nguyên thủy. Không giám định biển kiểm soát: 29N1 – 690.14 do không có mẫu so sánh.
Bản cáo trạng số 57/CT-VKSGL ngày 06/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Hoàng B đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa:
1.Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng. V khai đang học nghề cắt tóc từ 2024 đến nay chưa xong, B khai đang ôn thi để thi đại học, đăng ký nguyện vọng vào trường H1 và trường lao động nên xin được cải tạo bên ngoài để tiếp tục việc học và học nghề.
2. Những người đại diện theo pháp luật của các bị cáo có mặt tại phiên tòa thống nhất các bị cáo là con mình trình bày. Ông Q bà L cam kết sẽ quản lý chặt các con để không có hành vi tái phạm.
3. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm giữ nguyên quyền công tố luận tội và tranh luận: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58, 65, 91, 101 BLHS, các Điều 119, 124 Luật tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo V từ 15-17 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30-34 tháng tính từ khi tuyên án; Xử phạt bị cáo B từ 13-15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 26-30 tháng tính từ khi tuyên án. Giao 2 bị cáo về UBND nơi cư trú để quản lý giám sát trong thời gian thử thách của án treo; Về trách nhiệm dân sự: Không; Về vật chứng: Áo dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu 1 con dao. 01 chiếc xe máy của chị P không biết bị cáo B lấy đi phạm tội đề nghị trả lại chị P. 01 USB tiếp tục lưu hồ sơ.
4. Trợ giúp viên pháp lý bào chữa ông Đ trình bày quan điểm: Nhất trí với đề xuất của VKS về tội danh, về hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo B đang là học sinh gia đình có hoàn cảnh khó khăn, các bị cáo đều đầu thú, đều là trẻ vị thành niên nên đề nghị HĐXX cho V mức án đầu khung VKS đề nghị, với B đề nghị áp dụng mức án dưới khung VKS đề nghị để các cháu có điều kiện tiếp tục học nghề và học đại học, có cơ hội rèn luyện trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì khác về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn T tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng, căn cứ các Điều 292 BLTTHS, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án là có căn cứ.
[3]. Về hành vi phạm tội: Xét thấy cháu Vũ Văn T và người đại diện trình báo, qua truy xét thu được đoạn clip quay cảnh bị cáo V và B đèo nhau bằng xe mô tô, bị cáo B dùng dao chém cháu T, phù hợp với lời khai của hai bị cáo, phù hợp với lời khai của cháu T, phù hợp với các nhân chứng khác nên đủ cơ sở kết luận vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 31/7/2024 tại đầu ngõ D H, thị trấn Y, huyện G, thành phố Hà Nội, các bị cáo Nguyễn Hoàng B và Nguyễn Văn V có hành vi điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao, lạng lách, bấm còi, dùng dao chém 01 nhát vào lưng cháu Vũ Văn T (đang điều khiển xe mô tô) gây thương tích cho cháu Vũ Văn T, gây mất trật tự an ninh công cộng và gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Hành vi của các bị cáo B và V đã đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng định khung tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS là có dùng hung khí. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm khách thể là trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, cần phải xử lý nghiêm mức án trong khung hình phạt để răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung với xã hội.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Nguyễn Văn V giữ vai trò là người khởi xướng và thực hành tích cực; Nguyễn Hoàng B giữ vai trò là người thực hành tích cực.
Tuy nhiên khi lượng hình đối với các bị cáo, xét V phạm tội khi 16 tuổi 3 tháng 01 ngày, B phạm tội khi 16 tuổi 11 tháng 6 ngày (Phạm tội từ đủ 16-18 tuổi), căn cứ các Điều 119, 124 Luật tư pháp người chưa thành niên các bị cáo từ đủ 16 đến đưới 18 tuổi Luật tư pháp người chưa thành niên phạm tội thì tù có thời hạn mức cao nhất không có 3/5 mức phạt tù mà điều luật áp dụng với người thành niên.
-Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có nhưng ngày 17/5/2024, Công an xã Đ đưa V vào quản lý theo Nghị định 120/2021/NĐ-CP ngày 24/12/2021 của Chính Phủ.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS
+ Các bị cáo đều đã bồi thường thiệt hại cho anh T, đều đầu thú, đều phạm tội lần đầu, anh T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào các tình tiết như trên, HĐXX xét thấy các bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ Điều 51 BLHS, các bị cáo đang tuổi vị thành niên, có nơi cư trú rõ ràng, đây là lần đầu vi phạm, cũng chỉ vì đã bị người khác đánh nên hiểu nhầm cháu T đã đánh mình mà có hành vi đuổi theo trả thù, bị cáo B đang chuẩn bị thi đại học,bị cáo V đang học nghề nên xét thấy có thể cho các bị cáo được cải tạo bên ngoài xã hội trong khung hình phạt để các bị có có hội, có môi trường rèn luyện trở thành công dân tốt, cũng như đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung theo quy định tại Điều 65 BLHS và Nghị quyết 01, 02 hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 91 BLHS về nguyên tắc xét xử đối với người dưới 18 tuổi không áp dụng hình phạt bổ sung nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.
[5].Về dân sự: Gia đình bị cáo B và V đã tự nguyện bồi thường cho anh T. Anh T1 không có yêu cầu đề nghị gì thêm, HĐXX không xem xét giải quyết.
[6]. Về vật chứng:
+ 01 chiếc USB nhãn hiệu Kington 2G màu xanh bên trong có lưu 01 đoạn video thời gian 44 giây ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án do là chứng cứ vụ án, tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án
+ 01 con dao dài 50cm, cán gỗ dài 12 cm quấn băng dính đen, lưỡi dao dài 38cm có phần bản rộng nhất 4cm và hẹp nhất 3cm, có ốp bọc lưỡi dao bằng giấy quấn băng dính đen dài 38cm thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn V là vật liên quan đến tội phạm cho tịch thu tiêu hủy
+ 01 xe máy Honda Vision màu đen, đeo biển kiểm soát 29N1 – 690.14 có số khung: RLHJF5830JY15065 và số máy: JF86E – 2015250 qua điều tra thuộc sở hữu của bà Hoàng Thị P – mẹ đẻ vị cáo B. Ngày 31/7/2024 B đã tự ý lấy chiếc xe máy trên và sử dụng vào mục đích phạm tội, chị P không biết B lấy xe để làm phương tiện đi phạm tội nên trả lại xe cho chị P là có căn cứ.
[7]. Về án phí: Do các bị cáo phạm tội khi đã 16 tuổi, không là trẻ em theo Điều 1 Luật trẻ em, theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 về án phí nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm khi bị kết án.
[8]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, những người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo chưa thành niên, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9]. Đối với hành vi khác liên quan đến vụ án: Đối với hành vi gây thương tích của B và V đối với anh T1, anh T1 không giám định, đã nhận bồi thường, có đơn xin không xử lý hình sự đối với các bị cáo nên không có căn cứ khởi tố vụ án Cố ý gây thương tích. Ngày 25/4/2025 Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Hoàng B và Nguyễn Văn V về hành vi cố ý gây thương tích đối với cháu Vũ Văn T, HĐXX không đặt vấn đề xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Hoàng B cùng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Căn cứ:
- + Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; các Điều 65, 17, 58, 47 BLHS;
- + Các Điều 119, 124 Luật tư pháp người chưa thành niên;
- + Các Điều 106, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- + Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo; Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TANDTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018;
- + Điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3. Xử phạt:
- + Bị cáo Nguyễn Văn V 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo V về UBND xã T, huyện G, thành phố Hà Nội quản lý giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- + Bị cáo Nguyễn Hoàng B 14 (Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo B về UBND xã N, huyện G, thành phố Hà Nội quản lý giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Áp dụng khoản 5 Điều 65 của BLHS: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về hình phạt bổ sung: Không
5. Về vật chứng:
5.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dài 50cm, cán gỗ dài 12 cm.
5.2. Lưu giữ kèm hồ sơ: 01 chiếc USB nhãn hiệu Kington 2G màu xanh.
5.3. Trả lại: Bà Hoàng Thị P 01 xe máy Honda Vision màu đen, đeo biển kiểm soát 29N1 – 690.14 có số khung: RLHJF5830JY15065 và số máy: JF86E – 2015250 đã qua sử dụng.
6. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Hoàng B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
7. Về quyền kháng cáo:
Báo cho các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Hoàng B, ông Q, bà L có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Báo cho ông Đ, anh T và người đại diện, bà P vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thiên Hương |
Bản án số 87/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 87/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn văn V SN 2008; Nguyễn Hoàng B SN 2007
