|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2025/HS-ST Ngày 27-6-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ và bà Nguyễn Thị Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2025/TLST-HS, ngày 12 tháng 6 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Ngô Quốc H, tên gọi khác: Lỳ; sinh ngày 17/12/1989, tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng thường trú: Số A L, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú và tạm trú: Số A T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 11/12; con ông Ngô Quốc H1, sinh năm 1947 và bà Dương Thị L, sinh năm 1959; vợ: Phạm Nhật Thu H2, sinh năm 1989, con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- + Bản án số 65/2006/HSST ngày 28/12/2006 của Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt Ngô Quốc H 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích;
- + Bản án số 51/2007/HSST ngày 30/5/2007 của Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt Ngô Quốc H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích;
- + Bản án số 91/2014/HSST ngày 24/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt Ngô Quốc H 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2025 đến ngày 27/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Thị Mỹ H3, tên gọi khác: Thỏ; sinh ngày 20/11/2002, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng thường trú: Số E P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: Tổ D, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961 và bà Lưu Thị H4, sinh năm 1966; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2025 đến ngày 27/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phạm Thị Bảo N, sinh năm:2000; địa chỉ: Thôn F, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Chị Phạm Thị Bảo T1, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn F, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Anh Trương Viết H5 sinh năm 1991; thường trú tại thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nơi ở hiện nay: số C T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Anh Danh Quốc V, sinh năm 1990; địa chỉ: Số D L, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Bà Phạm Thị M, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Chị Trần Thị D, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Anh Đồng Văn T2, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A Hồ T, tổ F, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Anh Bùi Mạnh H6, sinh năm 1994, cư trú: số E B, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Anh Đỗ Ngọc V1, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1973, cư trú: số B L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Như H7, sinh năm 2003; địa chỉ: Số A P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Chị Nguyễn Như Q, sinh năm 2003; địa chỉ: Số A P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Chị Lê Thanh H8, sinh năm 2003; địa chỉ: Số I N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thủy T3, sinh năm 2002; địa chỉ: Số G T, tổ E, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Chị Trần Khánh V2, sinh năm 2002; địa chỉ: Số B P, Phường A, thành phố B và số E N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Chị Mai Thị Hồng N1, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn F, xã T, huyện B và số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Anh Nguyễn Vĩnh T4, sinh năm 1991; địa chỉ: Số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Anh Trương Ngọc N2, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/6/2019, Ngô Quốc H thành lập Công ty TNHH H15, địa chỉ số A T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. H là người đứng đầu văn phòng đại diện, là chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc công ty. Công ty H15 hoạt động ngành nghề kinh doanh bất động sản, cầm đồ, tài chính, mua bán xe ô tô và xe máy. Bên cạnh hoạt động kinh doanh của công ty thì H còn sử dụng tiền cá nhân để thực hiện hoạt động cho vay tiền với lãi suất cao vượt quá quy định của pháp luật. Công ty H15 có 08 nhân viên làm việc gồm Nguyễn Thị Mỹ H3, Nguyễn Như H7, sinh năm 2003, thường trú tại số A P, phường L, thành phố B, Nguyễn Như Q sinh năm 2003, thường trú tại số A P, phường L, thành phố B, Lê Thanh H8, sinh năm 2003, thường trú tại số I N, phường L, thành phố B, Nguyễn Thị Thủy T3, sinh năm 2002, thường trú tại số G T, tổ E, phường L, thành phố B, Trần Khánh V2, sinh năm 2002, thường trú tại số B P, phường A, Tp ., nơi ở hiện nay số E N, phường L, thành phố B, Mai Thị Hồng N1, sinh năm 1996, thường trú tại thôn F, xã T, huyện B, nơi ở hiện nay số A N, phường L, thành phố B và Nguyễn Vĩnh T4 sinh năm 1991, thường trú tại số A N, phường L, thành phố B. Trong đó, H7 được phân công công việc soạn thảo hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng cho thuê tài sản; H3 được phân công công việc đưa hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng cho thuê tài sản để khách hàng ký tên, lăn tay, quản lý danh sách những người vay tiền của Ngô Quốc H và thu tiền lãi từ người vay sau đó thông báo lại cho H; T4 được phân công công việc thẩm định giá trị tài sản của khách hàng đến công ty C vay tiền và đi đòi tiền nợ từ khách hàng cho H; các nhân viên còn lại được phân công công việc là môi giới bất động sản và thẩm định phương tiện của khách hàng đến cầm cố tại công ty.
Đối với những người vay tiền có nhu cầu vay tiền bằng hình thức cầm cố tài sản mà vẫn muốn tiếp tục sử dụng tài sản thì H chỉ đạo nhân viên lập hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng vay tiền, hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng cho thuê tài sản, còn những người vay tiền chỉ thế chấp tài sản thì H chỉ đạo nhân viên thiết lập hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng vay tiền. H yêu cầu người vay đến công ty đóng tiền lãi hoặc chuyển tiền vào số tài khoản ngân hàng S1 số [...] của H, số tài khoản ngân hàng V3 số 1014431136 của H3. Khi người vay tiền chậm trả tiền lãi và tiền gốc thì H nói H3 liên hệ với người vay để yêu cầu trả tiền, nếu người vay vẫn tiếp tục không trả tiền thì H sẽ đến nhà của người vay để yêu cầu trả tiền.
Từ ngày 06/8/2024 đến ngày 31/10/2024, Ngô Quốc H cùng Nguyễn Thị Mỹ H3 đã cho 10 người tại địa bàn thành phố B vay tiền với lãi suất cao vượt quá quy định của pháp luật, cụ thể như sau:
1. Chị Phạm Thị Bảo N sinh năm: 2000, thường trú tại thôn F, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng:
- - Lần 1: Ngày 06/8/2024, H cho chị N vay số tiền 70.000.000 đồng, H yêu cầu chị N thế chấp CCCD sau đó H chỉ đạo nhân viên là H7 lập hợp đồng cầm cố CCCD, 01 hợp đồng cho vay tiền, lãi suất H và chị N thỏa thuận miệng với nhau là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày (không ghi lãi suất trong hợp đồng cho vay tiền), cứ 10 ngày thì chị N đóng lãi 01 lần tương đương là 7.000.000 đồng, không thu lệ phí, H nói H3 đưa hồ sơ cho chị N ký và thu tiền lãi từ chị N. Đến ngày 04/12/2024, H và H3 đã thu tiền lãi của chị N 120 ngày tương đương số tiền 84.000.000 đồng, thu số tiền phạt do chậm đóng lãi là 9.800.000 đồng. Đối với lần vay này chị N chưa trả tiền gốc cho H.
- - Lần 2: Ngày 03/9/2024, H cho chị N vay số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, không thu lệ phí. Ở lần vay này H trực tiếp cho chị N vay tiền và không thông qua nhân viên, không lập hợp đồng vay tiền, hợp đồng cầm đồ. Đến ngày 08/9/2024, chị N trả cho H tiền gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi là 10.000.000 đồng.
- - Lần 3: Ngày 17/9/2024, H cho chị N vay số tiền 300.000.000 đồng, H yêu cầu N thế chấp 01 xe mô tô, sau đó H chỉ đạo nhân viên H7 lập 01 hợp đồng cầm đồ xe mô tô của N, 01 hợp đồng mua bán xe mô tô không công chứng, 01 hợp đồng cho thuê lại xe mô tô và 01 hợp đồng cho vay tiền. Trong hợp đồng cho vay tiền không ghi lãi suất nhưng chị N và H thỏa thuận miệng lãi suất là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, cứ 10 ngày đóng tiền lãi 01 lần tương đương là 30.000.000 đồng, H nói H3 đưa hồ sơ cho N ký và thu tiền lãi từ chị N. Đến ngày 06/12/2024, H đã thu 80 ngày tiền lãi tương đương 240.000.000 đồng, thu số tiền phạt do chậm đóng lãi là 23.200.000 đồng. Đối với lần vay này chị N chưa trả tiền gốc cho H.
Như vậy, Ngô Quốc H đã cho chị Phạm Thị Bảo N vay tiền 03 lần với tổng số tiền cho vay là 570.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, gấp 18,25 lần so với mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định, thu lợi bất chính số tiền là 348.698.630 đồng (gồm tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật là 315.698.630 đồng, tiền phạt do chậm đóng lãi là 33.000.000 đồng). Nguyễn Thị Mỹ H3 đã giúp Ngô Quốc H cho chị Phạm Thị Bảo N vay tiền 02 lần với tổng số tiền cho vay là 370.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, gấp 18,25 lần so với mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định, thu lợi bất chính số tiền là 339.246.575 đồng (gồm tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật là 306.246.575 đồng, tiền phạt do chậm đóng lãi là 33.000.000 đồng).
2. Chị Phạm Thị Bảo T1 sinh năm: 2002, thường trú tại thôn F, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng:
- - Lần 1: Ngày 16/8/2024, chị N liên lạc với H nói em gái của N là chị T1 muốn vay tiền của H thì H đồng ý. Chị T1 cùng chị N đến gặp H thỏa thuận vay số tiền 50.000.000 đồng, sau đó H chỉ đạo nhân viên H7 lập 01 hợp đồng cầm đồ CCCD, 01 hợp đồng cho vay tiền không ghi lãi suất nhưng H và chị T1 thỏa thuận lãi suất miệng với nhau là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, cứ 10 ngày đóng tiền lãi 01 lần tương đương 5.000.000 đồng, H nói H3 đưa hồ sơ cho chị T1 ký và thu tiền lãi cho H. Đến ngày 04/12/2024, H và H3 đã thu tiền lãi của chị T1 110 ngày tương đương với số tiền 55.000.000 đồng, ngoài ra H và H3 còn thu tiền phạt do chị T1
chậm đóng tiền lãi số tiền là 7.000.000 đồng. Đối với lần vay này chị T1 đã trả cho H được 10.000.000 đồng tiền gốc, hiện chị T1 còn nợ H 40.000.000 đồng tiền gốc.
Như vậy, Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 đã cho chị Phạm Thị Bảo T1 vay tiền 01 lần với tổng số tiền cho vay là 50.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, gấp 18,25 lần so với mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định, thu lợi bất chính số tiền là 58.986.301 đồng (gồm tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật là 51.986.301 đồng, tiền phạt do chậm đóng lãi là 7.000.000 đồng).
3. Anh Trương Viết H5 sinh năm 1991, thường trú tại thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, nơi ở hiện nay: số C T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng
- - Lần 1: Tháng 8/2024, H cho anh H5 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, không thu lệ phí, H và H5 thỏa thuận đóng lãi theo tháng (tức mỗi tháng tiền lãi là 3.000.000 đồng). Sau đó H nói H3 theo dõi và thu tiền lãi từ anh H5. Đến tháng 11/2024, H và H3 đã thu 03 tháng tiền lãi tương đương số tiền 9.000.000 đồng. Đối với lần vay này thì anh H5 chưa trả tiền gốc cho H.
Như vậy, Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 đã cho anh Trương Viết H5 vay tiền 01 lần với tổng số tiền cho vay là 10.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, gấp 18,25 lần so với mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định, đã thu số tiền 9.000.000₫, gồm: Lãi suất theo quy định của pháp luật là 498.000đ, thu lợi bất chính số tiền là 8.506.849 đồng.
4. Anh Danh Quốc V, sinh năm 1990, thường trú tại số D L, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng
- - Lần 1: Ngày 23/8/2024, H cho anh V vay số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, không thu lệ phí. Sau đó H nói H3 theo dõi và thu tiền lãi từ anh V. Đến ngày 25/12/2024, H và H3 đã thu số tiền lãi 120 ngày tương đương là 6.000.000 đồng. Đối với lần vay này thì anh V đã trả tiền gốc cho H.
Như vậy, Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 đã cho anh Danh Quốc V vay tiền 01 lần với tổng số tiền cho vay là 5.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, gấp 18,25 lần so với mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định, đã thu tổng số tiền 6.000.000 đồng 5.671.233 đồng, gồm lãi suất theo quy định của pháp luật là 237.066 đồng.
5. Bà Phạm Thị M, sinh năm 1965, thường trú tại tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng
- - Lần 1: Ngày 23/10/2024, H nhận cầm cố xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen, biển số 49K1-497.60 của bà M với số tiền là 13.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, không thu lệ phí. Sau đó H nói H3 theo dõi và thu tiền lãi từ bà M. Đến ngày 31/10/2024, H và H3 đã thu số tiền lãi 07 ngày tương đương là 273.000 đồng, bà M đã trả đủ số tiền gốc cho H và lấy lại xe mô tô đã cầm cố cho H (BL: 716-718; 930-936).
Như vậy, Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 đã cho bà Phạm Thị M vay tiền 01 lần dưới hình thức cầm cố tài sản với tổng số tiền cho vay là 13.000.000 đồng, lãi suất 110%/năm, gấp 5,48 lần so với mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định, thu lợi bất chính số tiền là 133.137 đồng.
6. Chị Trần Thị D, sinh năm 1999, thường trú tại thôn C, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng
- - Lần 1: Ngày 31/10/2024, H nhận cầm cố 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP màu xám của chị D với số tiền là 3.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, không thu lệ phí. Sau đó H nói H3 theo dõi và thu tiền lãi từ chị D. Đến ngày 15/11/2024, H và H3 đã thu số tiền lãi 15 ngày tương đương là 135.000 đồng, chị D đã trả đủ số tiền gốc cho H và lấy lại máy tính xách tay đã cầm cố cho H.
Như vậy, Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 đã cho chị Trần Thị D vay tiền 01 lần dưới hình thức cầm cố tài sản với tổng số tiền cho vay là 3.000.000 đồng, lãi suất 110%/năm, gấp 5,48 lần so với mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định, thu lợi bất chính số tiền là 110.342 đồng.
7. Anh Đồng Văn T2, sinh năm 1992, cư trú tại số A Hồ T, tổ F, Phường A, Tp ., tỉnh Lâm Đồng
- - Lần 1: Ngày 05/8/2024, H cho anh T2 vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, không thu lệ phí. Sau đó H nói H3 theo dõi và thu tiền lãi từ anh T2. Tuy nhiên, sau đó anh T2 chưa đóng tiền lãi và chưa trả tiền gốc cho H và H3.
Như vậy, Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 đã cho anh Đồng Văn T2 vay tiền 01 lần với tổng số tiền cho vay là 30.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, gấp 18,25 lần so với mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định, đối với lần vay này thì H và H3 chưa thu lợi bất chính từ anh Đồng Văn T2.
8. Anh Bùi M1, sinh năm 1994, cư trú: số E B, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng
- - Lần 1: Ngày 20/8/2024, H cho anh M1 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, không thu lệ phí. Sau đó H nói H3 theo dõi và thu tiền lãi từ anh M1. Đến khoảng tháng 10/2024, H và H3 đã thu số tiền lãi 60 ngày tương đương là 6.000.000 đồng. Đối với lần vay này thì anh M1 đã trả tiền gốc cho H.
- - Lần 2: Ngày 04/9/2024, H cho anh M1 vay số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, không thu lệ phí. Sau đó H nói H3 theo dõi và thu tiền lãi từ anh M1. Đến khoảng tháng 11/2024, H và H3 đã thu số tiền lãi 60 ngày tương đương là 3.000.000 đồng. Đối với lần vay này thì anh M1 đã trả tiền gốc cho H.
Như vậy, Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 đã cho anh Bùi M1 vay tiền 02 lần với tổng số tiền cho vay là 15.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, gấp 18,25 lần so với mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định, thu lợi bất chính số tiền là 8.506.849 đồng.
9. Anh Đỗ Ngọc V1, sinh năm 1988, cư trú: thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng
- - Lần 1: Ngày 23/10/2024, H cho anh V1 vay số tiền 2.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, không thu lệ phí. Sau đó H nói H3 theo dõi và thu tiền lãi từ anh V1. Đến khoảng tháng 11/2024, H và H3 đã thu số tiền lãi 33 ngày tương đương là 660.000 đồng. Đối với lần vay này thì anh V1 đã trả tiền gốc cho H.
Như vậy, Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 đã cho anh Đỗ Ngọc V1 vay tiền 01 lần với tổng số tiền cho vay là 2.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, gấp 18,25 lần so với mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định, thu lợi bất chính số tiền là 623.836 đồng.
10. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1973, cư trú: số B L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng
- - Lần 1: Ngày 30/10/2024, H cho bà S vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, không thu lệ phí. Sau đó H nói H3 theo dõi và thu tiền lãi từ bà S. Đến khoảng tháng 11/2024, H và H3 đã thu số tiền lãi 50 ngày tương đương là 5.000.000 đồng. Đối với lần vay này thì bà S đã trả tiền gốc cho H.
Như vậy, Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 đã cho bà Nguyễn Thị S vay tiền 01 lần với tổng số tiền cho vay là 10.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, gấp 18,25 lần so với mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định, thu lợi bất chính số tiền là 4.726.027 đồng.
Kết luận giám định số 146/KL-KTHS ngày 06/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh L xác định: 01 bình xịt hình trụ tròn bằng kim loại màu đen và cam có tay cầm, cao 23cm, đường kính thân bình 66mm gửi giám định là bình xịt hơi cay thuộc công cụ hỗ trợ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị M, chị Trần Thị D, anh Danh Quốc V không yêu cầu Ngô Quốc H phải trả lại số tiền thu lợi bất chính; chị Phạm Thị Bảo N, chị Phạm Thị Bảo T1 và anh Trương Việt H9 sẽ trình bày ý kiến đối với số tiền thu lợi bất chính và số tiền gốc mà Ngô Quốc H tại phiên tòa.
Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị can Ngô Quốc H tự nguyện nộp số tiền 398.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ hoạt động cho vay, được UBND phường L tặng giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong phong trào “toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc”, bị can Nguyễn Thị Mỹ H3 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng là số tiền lương mà bị cáo được bị can H trả cho việc phụ giúp H trong hoạt động cho vay.
Bản Cáo trạng số 89/CT-VKS, ngày 10 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố các bị cáo Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
+ Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Áp dụng khoản 2 Điều 201; Điều 17, 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Ngô Quốc H số tiền từ 400.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 2 Điều 201; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H3 số tiền từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:
Cơ quan điều tra đã thu giữ, xác minh và trả lại cho chủ sở hữu các tài sản, đồ vật sau:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i màu trắng đen biển số 59T2-072.28 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu đen vàng biển số 49K1-921.82 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu trắng đỏ đen biển số 48B1-620.70 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 49A-315.64 mang tên Trần Thị T5; 01 thẻ CCCD số [...] mang tên Mai Thị N3 trả cho người quản lý tài sản là Ngô Quốc H vì không liên quan đến hành vi phạm tội;
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen biển số 49K1-75766 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe trả cho chủ sở hữu là Ngô Quốc H vì không liên quan đến hành vi phạm tội;
- + 01 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet cruze màu trắng biển số 51A-45172 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe trả cho chủ sở hữu là ông Ngô Quốc H10 sinh năm 1985, cư trú số A T, phường L, Tp B.;
- + 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe màu trắng biển số 49A-29238 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe trả cho chủ sở hữu là chị Phạm Nhật Thu H2 sinh năm 1989, cư trú tại số F N, phường B, Tp B .;
- + 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Sony Vaio màu trắng; 01 bộ máy tính để bàn gồm 01 CPU màu đen nhãn hiệu Venus và 01 màn hình màu đen nhãn hiệu PenQ; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP màu đen; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer màu đen; 01 bộ máy tính để bàn gồm 01 CPU màu đen nhãn hiệu Venus và 01 màn hình màu đen nhãn hiệu Dell; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP màu xám cho công ty H15 vì không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + 01 ĐTDĐ Iphone 14 Promax màu tím 128GB trả cho chị Mai Thị Hồng N1;
- + 01 ĐTDĐ Iphone 15 Promax 128GB trả cho Nguyễn Thị Thủy T3;
- + 01 ĐTDĐ Iphone Xsmax màu hồng 64GB trả cho Nguyễn Như Q;
- + 01 ĐTDĐ Iphone 11 màu xanh 64GB trả cho Trần Khánh V2;
- + 01 ĐTDĐ Iphone Xsmax màu đen 64GB trả cho Nguyễn Vĩnh T4;
- + 01 ĐTDĐ Iphone 11 màu trắng 64GB trả cho Nguyễn Như H7;
- + 01 ĐTDĐ Iphone 8 màu trắng 64GB trả cho Trương Trọng N4;
- + 01 ĐTDĐ Iphone 14 Promax màu tím 128GB trả cho Lê Thanh H8.
* Đối với vật chứng: 01 bình xịt màu đen cam có chữ Take Down để bên trong xe ô tô biển số 49A-29238. Quá trình điều tra đã giao cho UBND thành phố B xử lý theo thẩm quyền.
* Đối với vật chứng:
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 09/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Nguyễn Minh T6;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 22/7/2024 giữa Ngô Quốc H và Nguyễn Minh T6;
- + 01 bản photo CCCD số [...] mang tên Phạm Tuấn N5;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 05/11/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Tuấn N5;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung CCCD số [...] mang tên Phạm Thị M;
- + 01 hợp đồng cầm đồ ngày 23/10/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị M;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 05/11/2024 giữa Ngô Quốc H và Nguyễn Đức Đ;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cho vay tiền ngày 05/11/2024 giữa Ngô Quốc H và Nguyễn Đức Đ (có 02 trang);
- + 01 tờ giấy ghi nội dung CCCD số [...] mang tên Nguyễn Thị Kim H11;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 28/10/2024 giữa Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Kim H11;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung CCCD số [...] mang tên Nguyễn Bá Hải N6;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 09/9/2024 giữa Ngô Quốc H và Nguyễn Bá Hải N6;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung CCCD số [...] mang tên Trần Thị Quỳnh A;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 09/01/2025 giữa Ngô Quốc H và Trần Thị Quỳnh A;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 31/12/2024 giữa Ngô Quốc H và Mai Nhật Khương D1;
- + 01 hợp đồng mua bán xe giữa Mai Nhật Khương D1 và Ngô Quốc H;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 01/4/2024 giữa Ngô Quốc H và Mai Thị N3;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng thuê xe giữa Ngô Quốc H và Mai Thị N3;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 28/10/2024 giữa Ngô Quốc H và Mai Thị N3;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng thuê xe giữa Ngô Quốc H và Mai Thị N3;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cho vay tiền giữa Ngô Quốc H và Mai Thị N3;
- + 01 giấy photocopy ghi nội dung CCCD số [...] mang tên Lê Thị Hồng N7;
- + 01 giấy photocopy ghi nội dung CCCD số [...] mang tên Trần Văn T7;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung biên lai thu tiền ngày 22/10/2024;
- + 01 tờ giấy ghi hợp đồng cầm đồ ngày 21/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Trần Văn T7;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng vay tiền ngày 21/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Trần Văn T7;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng mua bán xe giữa Trần Văn T7, Lê Thị Hồng N7 và Ngô Quốc H;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung trích lục kết hôn Lê Thị Hồng N7, Trần Văn T7;
- + 01 hợp đồng cầm đồ ngày 20/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Trần Văn T7;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cho vay tiền ngày 20/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Trần Văn T7;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng mua bán xe giữa Trần Văn T7 và Ngô Quốc H;
- + 02 biên lai thu tiền đề ngày 21/01/2025 (người nộp là Phạm Thị Bảo T1);
- + 01 hợp đồng cầm đồ đề ngày 16/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo T1;
- + 01 hợp đồng cho vay tiền đề ngày 16/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo T1 (số tiền 50.000.000 đồng);
- + 01 hợp đồng cầm đồ đề ngày 06/8/2024 giữa giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo N;
- + 01 hợp đồng cho vay tiền đề ngày 06/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo N (số tiền 70.000.000 đồng);
- + 01 hợp đồng cầm đồ đề ngày 17/9/2024 giữa giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo N;
- + 01 hợp đồng cho vay tiền đề ngày 17/9/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo N (số tiền 300.000.000 đồng);
- + 01 hợp đồng cho thuê xe mô tô biển số 49H1-612.79 đề ngày 17/9/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo N;
- + 01 hợp đồng mua bán xe mô tô biển số 49H1-612.79 giữa Phạm Thị Bảo N và Ngô Quốc H;
- + 01 giấy hẹn trả nợ của Phạm Thị Bảo N;
- + 04 tờ giấy vở học sinh ghi danh sách người vay tiền, số tiền cho vay, số tiền thu lãi theo chu kỳ.
Đây là vật chứng chứng minh tội phạm đang lưu kèm hồ sơ vụ án.
* Hiện còn đang thu giữ các tài sản, đồ vật, tài liệu sau:
- + Số tiền 131.000.000 đồng (gồm 76.000.000 đồng thu ở két sắt trong phòng ngủ của Ngô Quốc H tại số A T, phường L, thành phố B; 10.000.000 đồng là số tiền mà ngày 21/01/2025 Ngô Quốc H thu của Phạm Thị Bảo N và Phạm Thị Bảo T1; 45.000.000 đồng Nguyễn Thị Mỹ H3 quản lý).
- - Số tiền 76.000.000đ và số tiền 45.000.000đ. Đây là số tiền của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo H nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- - Số tiền 10.000.000đ thu của chị N và chị T1. Đây là tiền liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + Số tiền 398.000.000 đồng là số tiền mà bị cáo Ngô Quốc H tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả. Tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- + Số tiền 10.000.000 đồng là tiền mà bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H3 tự nguyện giao nộp. Đây là tiền lương của bị cáo H3 liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- + 01 ĐTDĐ Iphone 12 Promax màu đồng 256GB, số Imei: 354703752385352 của Ngô Quốc H. Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + 01 ĐTDĐ Samsung Galaxy A9 màu đỏ, số Imei: 359933098456295 của Ngô Quốc H. Đây là tài sản của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo H nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- + 01 ĐTDĐ Iphone 12 Promax màu đồng 128GB, số Imei: 359871979729184 của Nguyễn Thị Mỹ H3. Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + 01 bộ máy tính để bàn gồm 01 CPU màu đỏ và 01 màn hình màu đen nhãn hiệu Samsung và 01 máy in hiệu canon có mã F166400 màu trắng xám. Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + Đối với số tiền 52.000.000đ bị cáo H nộp khắc phục hậu quả ngày 17/6/2025 theo biên lai thu số 0000948 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- + Đối với 01 căn cước công dân [...] cấp ngày 04/6/2024 mang tên Phạm Thị Bảo N, 01 căn cước công dân [...] cấp ngày 04/6/2024 mang tên Phạm Thị Bảo T1 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 49 011682, biển số xe 49H1-612.79 cấp ngày 07/7/2022 mang tên Phạm Thị Bảo N lưu kèm hồ sơ vụ án. Đây là các giấy tờ hợp pháp của chị N, chị T1 nên trả lại cho chị N, chị T1.
- + Đối với số tiền 708.000.000 đồng. Đây là số tiền dùng làm công cụ phạm tội (hiện tại chị Phạm Thị Bảo N đang quản lý 370.000.000 đồng, chị Phạm Thị Bảo T1 quản lý 40.000.000 đồng, anh Đồng Văn T2 đang quản lý 30.000.000 đồng và anh Trương Viết H5 đang quản lý 10.000.000 đồng và bị cáo H đang quản lý 248.000.000 đồng). Buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền 248.000.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Buộc chị Phạm Thị Bảo N phải nộp lại số tiền 370.000.000 đồng, chị Phạm Thị Bảo T1 phải nộp lại số tiền 40.000.000 đồng, anh Đồng Văn T2 phải nộp lại số tiền 30.000.000 đồng và anh Trương Viết H5 phải nộp lại số tiền 10.000.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + Đối với số tiền 436.053.204 đồng. Đây là số tiền thu lợi bất chính và theo Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thì số tiền này buộc bị cáo H phải trả lại cho chị Phạm Thị Bảo N 348.698.630 đồng, trả lại cho chị Phạm Thị Bảo T1 58.986.301 đồng, trả lại cho anh Trương Viết H5 8.506.849 đồng, trả lại cho anh Bùi M1 8.506.849 đồng, trả lại cho anh Đỗ Ngọc V1 623.836 đồng, trả lại cho bà Nguyễn Thị S 4.726.027 đồng là phù hợp.
- + Đối với số tiền 23.014.796 đồng là mức lãi suất do Bộ luật dân sự năm 2015 quy định mà bị cáo H đã thu được từ những người vay tiền. Đây là số tiền liên quan đến việc phạm tội và theo Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn. Buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền này để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + Đối với số tiền bị cáo H thu lợi bất chính của bà Phạm Thị M là 133.137 đồng, chị Trần Thị D là 110.342 đồng và của anh D2 Quốc Vương là 5.671.233 đồng. Do bà M, chị D, anh V không yêu cầu bị cáo H trả lại nên buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền này nộp ngân sách Nhà nước.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
+ Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về bản cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp gì với Kiểm sát viên.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Bảo N trình bày: Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, chị yêu cầu bị cáo H trả lại số tiền thu lợi bất chính là 348.689.630 đồng, chị không đồng ý nộp lại số tiền chị còn nợ bị cáo H là 370.000.000 đồng.
+ Các bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng thời gian từ ngày 06/8/2024 đến ngày 31/10/2024, tại thành phố B, Ngô Quốc H đã thực hiện hành vi cho 10 người vay tiền dưới hình thức vay tiền trả tiền lãi hàng ngày với tổng số tiền cho vay là 708.000.000 đồng, lãi suất cho vay từ 110%/năm đến 365%/năm, vượt mức lãi suất cho phép của Bộ luật dân sự từ 5,48 lần đến 18,25 lần. Tổng tiền lãi H đã thu là 419.068.000 đồng (trong đó lãi suất được hưởng theo quy định của pháp luật là 23.014.796 đồng, lãi suất vượt quá quy định của pháp luật là 396.053.204 đồng, số tiền phạt chậm đóng lãi là 40.000.000 đồng). Tổng số tiền thu lợi bất chính là 436.053.204 đồng. Người vay còn nợ H số tiền gốc là 450.000.000 đồng.
Nguyễn Thị Mỹ H3 có hành vi giúp sức cho Ngô Quốc H cho 10 người vay tiền dưới hình thức vay tiền trả tiền lãi hàng ngày với tổng số tiền cho vay là 508.000.000 đồng, lãi suất cho vay từ 110%/năm đến 365%/năm, vượt mức lãi suất cho phép của Bộ luật dân sự từ 5,48 lần đến 18,25 lần, tổng tiền lãi đã thu là 409.068.000 đồng (trong đó lãi suất được hưởng theo quy định của pháp luật là 22.466.851 đồng, lãi suất vượt quá quy định của pháp luật là 386.601.149 đồng), số tiền phạt chậm đóng lãi là 40.000.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 426.601.149 đồng.
Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 qui định: “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. .... Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”...
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính và còn mang tính chất bóc lột, làm cho người vay tiền lâm vào điều kiện hoàn cảnh khó khăn, điêu đứng. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích hám lợi và thái độ xem thường kỷ cương pháp luật nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo H đã bị kết án, đã được xóa án tích hơn 10 năm, bị cáo H3 có nhân thân tốt.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã nộp lại tiền khắc phục hậu quả; bị cáo H3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo H được UBND phường L tặng Giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc”, được U, thành phố B tôn vinh đã có nhiều đóng góp cho chương trình “An sinh xã hội” trên địa bàn Phường A, thành phố B. Vì vậy, cho bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và bị cáo H3 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H và H3 cho vay có 02 lần số tiền thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
[7] Vụ án có đồng phạm nên cần xem xét, tính chất, mức độ của các bị cáo như sau:
Đối với bị cáo H là người có vai trò chính nên tính chất, mức độ cao hơn bị cáo H3.
Đối với bị cáo H3 là người giúp sức cho bị cáo H nên tính chất, mức độ thấp hơn.
[8] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt chính bằng hình phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa. Vì vậy, áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo là phù hợp.
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:
Cơ quan điều tra đã thu giữ, xác minh và trả lại cho chủ sở hữu các tài sản, đồ vật sau:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i màu trắng đen biển số 59T2-072.28 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu đen vàng biển số 49K1-921.82 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu trắng đỏ đen biển số 48B1-620.70 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 49A-315.64 mang tên Trần Thị T5; 01 thẻ CCCD số [...] mang tên Mai Thị N3 trả cho người quản lý tài sản là Ngô Quốc H vì không liên quan đến hành vi phạm tội;
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen biển số 49K1-75766 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe trả cho chủ sở hữu là Ngô Quốc H vì không liên quan đến hành vi phạm tội;
- + 01 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet cruze màu trắng biển số 51A-45172 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe trả cho chủ sở hữu là ông Ngô Quốc H10 sinh năm 1985, cư trú số A T, phường L, Tp .;
- + 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe màu trắng biển số 49A-29238 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe trả cho chủ sở hữu là chị Phạm Nhật Thu H2 sinh năm 1989, cư trú tại số F N, phường B, Tp .;
- + 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Sony Vaio màu trắng; 01 bộ máy tính để bàn gồm 01 CPU màu đen nhãn hiệu Venus và 01 màn hình màu đen nhãn hiệu PenQ; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP màu đen; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer màu đen; 01 bộ máy tính để bàn gồm 01 CPU màu đen nhãn hiệu Venus và 01 màn hình màu đen nhãn hiệu Dell; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP màu xám cho công ty H15 vì không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + 01 ĐTDĐ Iphone 14 Promax màu tím 128GB trả cho chị Mai Thị Hồng N1;
- + 01 ĐTDĐ Iphone 15 Promax 128GB trả cho Nguyễn Thị Thủy T3;
- + 01 ĐTDĐ Iphone Xsmax màu hồng 64GB trả cho Nguyễn Như Q;
- + 01 ĐTDĐ Iphone 11 màu xanh 64GB trả cho Trần Khánh V2;
- + 01 ĐTDĐ Iphone Xsmax màu đen 64GB trả cho Nguyễn Vĩnh T4;
- + 01 ĐTDĐ Iphone 11 màu trắng 64GB trả cho Nguyễn Như H7;
- + 01 ĐTDĐ Iphone 8 màu trắng 64GB trả cho Trương Trọng N4;
- + 01 ĐTDĐ Iphone 14 Promax màu tím 128GB trả cho Lê Thanh H8.
* Đối với vật chứng: 01 bình xịt màu đen cam có chữ Take Down để bên trong xe ô tô biển số 49A-29238. Quá trình điều tra đã giao cho UBND thành phố B xử lý theo thẩm quyền.
* Đối với vật chứng:
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 09/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Nguyễn Minh T6;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 22/7/2024 giữa Ngô Quốc H và Nguyễn Minh T6;
- + 01 bản photo CCCD số [...] mang tên Phạm Tuấn N5;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 05/11/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Tuấn N5;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung CCCD số [...] mang tên Phạm Thị M;
- + 01 hợp đồng cầm đồ ngày 23/10/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị M;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 05/11/2024 giữa Ngô Quốc H và Nguyễn Đức Đ;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cho vay tiền ngày 05/11/2024 giữa Ngô Quốc H và Nguyễn Đức Đ (có 02 trang);
- + 01 tờ giấy ghi nội dung CCCD số [...] mang tên Nguyễn Thị Kim H11;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 28/10/2024 giữa Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Kim H11;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung CCCD số [...] mang tên Nguyễn Bá Hải N6;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 09/9/2024 giữa Ngô Quốc H và Nguyễn Bá Hải N6;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung CCCD số [...] mang tên Trần Thị Quỳnh A;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 09/01/2025 giữa Ngô Quốc H và Trần Thị Quỳnh A;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 31/12/2024 giữa Ngô Quốc H và Mai Nhật Khương D1;
- + 01 hợp đồng mua bán xe giữa Mai Nhật Khương D1 và Ngô Quốc H;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 01/4/2024 giữa Ngô Quốc H và Mai Thị N3;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng thuê xe giữa Ngô Quốc H và Mai Thị N3;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cầm đồ ngày 28/10/2024 giữa Ngô Quốc H và Mai Thị N3;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng thuê xe giữa Ngô Quốc H và Mai Thị N3;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cho vay tiền giữa Ngô Quốc H và Mai Thị N3;
- + 01 giấy photocopy ghi nội dung CCCD số [...] mang tên Lê Thị Hồng N7;
- + 01 giấy photocopy ghi nội dung CCCD số [...] mang tên Trần Văn T7;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung biên lai thu tiền ngày 22/10/2024;
- + 01 tờ giấy ghi hợp đồng cầm đồ ngày 21/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Trần Văn T7;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng vay tiền ngày 21/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Trần Văn T7;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng mua bán xe giữa Trần Văn T7, Lê Thị Hồng N7 và Ngô Quốc H;
- + 01 tờ giấy ghi nội dung trích lục kết hôn Lê Thị Hồng N7, Trần Văn T7;
- + 01 hợp đồng cầm đồ ngày 20/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Trần Văn T7;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng cho vay tiền ngày 20/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Trần Văn T7;
- + 02 tờ giấy ghi nội dung hợp đồng mua bán xe giữa Trần Văn T7 và Ngô Quốc H;
- + 02 biên lai thu tiền đề ngày 21/01/2025 (người nộp là Phạm Thị Bảo T1);
- + 01 hợp đồng cầm đồ đề ngày 16/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo T1;
- + 01 hợp đồng cho vay tiền đề ngày 16/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo T1 (số tiền 50.000.000 đồng);
- + 01 hợp đồng cầm đồ đề ngày 06/8/2024 giữa giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo N;
- + 01 hợp đồng cho vay tiền đề ngày 06/8/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo N (số tiền 70.000.000 đồng);
- + 01 hợp đồng cầm đồ đề ngày 17/9/2024 giữa giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo N;
- + 01 hợp đồng cho vay tiền đề ngày 17/9/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo N (số tiền 300.000.000 đồng);
- + 01 hợp đồng cho thuê xe mô tô biển số 49H1-612.79 đề ngày 17/9/2024 giữa Ngô Quốc H và Phạm Thị Bảo N;
- + 01 hợp đồng mua bán xe mô tô biển số 49H1-612.79 giữa Phạm Thị Bảo N và Ngô Quốc H;
- + 01 giấy hẹn trả nợ của Phạm Thị Bảo N;
- + 04 tờ giấy vở học sinh ghi danh sách người vay tiền, số tiền cho vay, số tiền thu lãi theo chu kỳ.
Đây là vật chứng chứng minh tội phạm đang lưu kèm hồ sơ vụ án.
* Hiện còn đang thu giữ các tài sản, đồ vật, tài liệu sau:
- + Số tiền 131.000.000 đồng (gồm 76.000.000 đồng thu ở két sắt trong phòng ngủ của Ngô Quốc H tại số A T, phường L, thành phố B; 10.000.000 đồng là số tiền mà ngày 21/01/2025 Ngô Quốc H thu của Phạm Thị Bảo N và Phạm Thị Bảo T1; 45.000.000 đồng Nguyễn Thị Mỹ H3 quản lý).
- - Số tiền 76.000.000đ và số tiền 45.000.000đ. Đây là số tiền của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo H nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- - Số tiền 10.000.000đ thu của chị N và chị T1. Đây là tiền liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + Số tiền 398.000.000 đồng là số tiền mà bị cáo Ngô Quốc H tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả. Tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- + Số tiền 10.000.000 đồng là tiền mà bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H3 tự nguyện giao nộp. Đây là tiền lương của bị cáo H3 liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- + 01 ĐTDĐ Iphone 12 Promax màu đồng 256GB, số Imei: 354703752385352 của Ngô Quốc H. Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + 01 ĐTDĐ Samsung Galaxy A9 màu đỏ, số Imei: 359933098456295 của Ngô Quốc H. Đây là tài sản của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo H nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- + 01 ĐTDĐ Iphone 12 Promax màu đồng 128GB, số Imei: 359871979729184 của Nguyễn Thị Mỹ H3. Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + 01 bộ máy tính để bàn gồm 01 CPU màu đỏ và 01 màn hình màu đen nhãn hiệu Samsung và 01 máy in hiệu canon có mã F166400 màu trắng xám. Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + Đối với số tiền 52.000.000đ bị cáo H nộp khắc phục hậu quả ngày 17/6/2025 theo biên lai thu số 0000948 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- + Đối với 01 căn cước công dân [...] cấp ngày 04/6/2024 mang tên Phạm Thị Bảo N, 01 căn cước công dân [...] cấp ngày 04/6/2024 mang tên Phạm Thị Bảo T1 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 49 011682, biển số xe 49H1-612.79 cấp ngày 07/7/2022 mang tên Phạm Thị Bảo N lưu kèm hồ sơ vụ án. Đây là các giấy tờ hợp pháp của chị N, chị T1 nên trả lại cho chị N, chị T1.
- + Đối với số tiền 708.000.000 đồng. Đây là số tiền dùng làm công cụ phạm tội (hiện tại chị Phạm Thị Bảo N đang quản lý 370.000.000 đồng, chị Phạm Thị Bảo T1 quản lý 40.000.000 đồng, anh Đồng Văn T2 đang quản lý 30.000.000 đồng và anh Trương Viết H5 đang quản lý 10.000.000 đồng và bị cáo H đang quản lý 248.000.000 đồng). Buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền 248.000.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Buộc chị Phạm Thị Bảo N phải nộp lại số tiền 370.000.000 đồng, chị Phạm Thị Bảo T1 phải nộp lại số tiền 40.000.000 đồng, anh Đồng Văn T2 phải nộp lại số tiền 30.000.000 đồng và anh Trương Viết H5 phải nộp lại số tiền 10.000.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + Đối với số tiền 436.053.204 đồng. Đây là số tiền thu lợi bất chính và theo Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thì số tiền này buộc bị cáo H phải trả lại cho chị Phạm Thị Bảo N 348.698.630 đồng, trả lại cho chị Phạm Thị Bảo T1 58.986.301 đồng, trả lại cho anh Trương Viết H5 8.506.849 đồng, trả lại cho anh Bùi M1 8.506.849 đồng, trả lại cho anh Đỗ Ngọc V1 623.836 đồng, trả lại cho bà Nguyễn Thị S 4.726.027 đồng là phù hợp.
- + Đối với số tiền 23.014.796 đồng là mức lãi suất do Bộ luật dân sự năm 2015 quy định mà bị cáo H đã thu được từ những người vay tiền. Đây là số tiền liên quan đến việc phạm tội và theo Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn. Buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền này để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + Đối với số tiền bị cáo H thu lợi bất chính của bà Phạm Thị M là 133.137 đồng, chị Trần Thị D là 110.342 đồng và của anh D2 Quốc Vương là 5.671.233 đồng. Do bà M, chị D, anh V không yêu cầu bị cáo H trả lại nên buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền này nộp ngân sách Nhà nước.
[10] Các vấn đề khác:
Quá trình khám xét khẩn cấp nơi làm việc của bị cáo Ngô Quốc H ở địa chỉ số A T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, cơ quan điều tra đã thu giữ được 01 bình xịt hơi cay là công cụ hỗ trợ của H. Quá trình điều tra H trình bày H mua bình xịt hơi cay trên thông qua mạng xã hội Facebook từ tháng 3/2022, sau khi mua thì H để bình xịt hơi cay ở công ty H15 cho đến ngày bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện. Bản thân Ngô Quốc H chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị kết án về hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt công cụ hỗ trợ nên hành vi của bị can chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. UBND thành phố B áp dụng điểm a khoản 4 Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1152/QĐ-XPHC ngày 30/5/2025 đối với Ngô Quốc H về hành vi “tàng trữ công cụ hỗ trợ”.
Ngoài 10 người vay tiền trên thì Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 còn cho 04 người khác (gồm Huỳnh Nguyễn Ngọc H12, Nguyễn Thị Hồng L1, Nguyễn Văn H13, Trần Minh H14) vay tổng số tiền là 79.000.000 đồng với lãi suất từ 110%-292%/năm, vượt gấp 5,48 đến 14,6 lần mức lãi suất cho phép của Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính số tiền 8.282.521 đồng. Tuy nhiên, cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của 04 người trên nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã yêu cầu cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý theo quy định.
Đối với các nhân viên gồm Trần Khánh V2, Nguyễn Như Q, Nguyễn Thị Thủy T3, Lê Thanh H8, Mai Thị Hồng N1 là nhân viên của công ty H15, được bị cáo Ngô Quốc H phân công công việc môi giới bất động sản nên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3.
Đối với Nguyễn Như H7 là nhân viên được bị can Ngô Quốc H phân công công việc soạn thảo các hợp đồng cầm đồ, hợp đồng vay tiền theo thông tin người vay tiền mà Ngô Quốc H cung cấp. Quá trình điều tra xác định H7 không làm việc với người vay tiền, không biết mức lãi suất thỏa thuận giữa người vay tiền và bị cáo H, các hợp đồng H7 soạn thảo không ghi mức lãi suất nên nhận thấy không đủ căn cứ xác định H7 là đồng phạm với bị cáo Ngô Quốc H về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Do đó việc cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với H7 là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Đối với Nguyễn Vĩnh T4 là nhân viên được bị cáo Ngô Quốc H phân công công việc thẩm định giá trị của tài sản mà người vay mang đến công ty cầm cố và đi đòi tiền nợ của người vay cho H. Quá trình điều tra xác định T4 chỉ biết thẩm định giá trị tài sản để báo cho H chứ T4 không biết và không giúp sức cho H trong hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và chỉ biết đi đòi tiện nợ giúp H chứ không biết thỏa thuận số tiền cho vay, mức lãi suất là bao nhiêu nên nhận thấy không đủ căn cứ xác định T4 là đồng phạm với bị cáo Ngô Quốc H về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Do đó việc cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T4 là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Đối với Trương Ngọc N2 sinh năm 1996, thường trú tại thôn T, xã L, thành phố B là người được H nhờ đi đòi tiền của người vay giúp H. Tuy nhiên quá trình điều tra xác định Nghĩa chỉ biết đi đòi tiện nợ giúp H chứ không biết thỏa thuận số tiền cho vay, mức lãi suất là bao nhiêu nên nhận thấy không đủ căn cứ xác định Nghĩa là đồng phạm với bị can Ngô Quốc H về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Do đó việc cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nghĩa là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[11] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng là phù hợp với với nhận định của Hội đồng xét xử là có căn cứ chấp nhận.
[12] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
1.1. Áp dụng khoản 2 Điều 201; Điều 17, 35 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Ngô Quốc H, tên gọi khác là L2 số tiền 500.000.000đ (năm trăm tiệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
1.2. Áp dụng khoản 2 Điều 201; Điều 17, 35 và điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H3, tên gọi khác là T8 số tiền 200.000.000đ (hai trăm tiệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tich thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng);
- 01 ĐTDĐ Iphone 12 Promax màu đồng 256GB, số Imei: 354703752385352; 01 ĐTDĐ Iphone 12 Promax màu đồng 128GB, số Imei: 359871979729184; 01 bộ máy tính để bàn gồm 01 CPU màu đỏ và 01 màn hình màu đen nhãn hiệu Samsung và và 01 máy in hiệu canon có mã F166400 màu trắng xám.
- - Buộc bị cáo Ngô Quốc H phải nộp lại số tiền 276.929.508đ (hai trăm bảy mươi sáu triệu, chín trăm hai mươi chín ngàn, năm trăm không tám đồng) để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Buộc chị Phạm Thị Bảo N phải giao nộp lại số tiền 370.000.000 đồng, chị Phạm Thị Bảo T1 phải giao nộp lại số tiền 40.000.000 đồng, anh Đồng Văn T2 phải giao nộp lại số tiền 30.000.000 đồng và anh Trương Viết H5 phải giao nộp lại số tiền 10.000.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 571.000.000₫ (năm trăm bảy mươi mốt triệu đồng) của bị cáo Ngô Quốc H để bảo đảm thi hành án.
- - Trả lại cho chị Phạm Thị Bảo N 01 căn cước công dân [...] cấp ngày 04/6/2024 mang tên Phạm Thị Bảo N và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 49 011682, biển số xe 49H1-612.79 cấp ngày 07/7/2022 mang tên Phạm Thị Bảo N, đang lưu kèm hồ sơ vụ án (bản chính).
- - Trả lại cho chị Phạm Thị Bảo T1 01 căn cước công dân [...] cấp ngày 04/6/2024 mang tên Phạm Thị Bảo T1, đang lưu kèm hồ sơ vụ án (bản chính).
- - Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/6/2025; tiền theo Ủy nhiệm chi ngày 18/6/2025, ngày 20/6/2025 giữa Cơ quan Công an tỉnh L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc và biên lai thu tiền số 0000948 ngày 17/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- - Buộc bị cáo Ngô Quốc H phải trả lại cho: Chị Phạm Thị Bảo N 348.698.630 đồng, chị Phạm Thị Bảo T1 58.986.301 đồng, anh Trương Viết H5 8.506.849 đồng, anh Bùi M1 8.506.849 đồng, anh Đỗ Ngọc V1 623.836 đồng và bà Nguyễn Thị S 4.726.027 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về ... án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Ngô Quốc H và Nguyễn Thị Mỹ H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 87/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 87/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H CĐP cho vay lãi nặng
