|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2025/HS-ST Ngày: 27-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực và ông Hoàng Phương Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thống, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2025/TLST-HS ngày 08/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2025/QĐXXST-HS ngày 09/05/2025, đối với:
- Bị cáo: Phan Văn V, sinh ngày 18/4/1998, tại thành phố H; nơi cư trú: Số D Đ, phường P, quận T, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha: Phan Văn D (đã chết); mẹ: Hồ Thị H, sinh năm 1964; vợ, con: chưa có.
Tiền án: Có 03 tiền án: Ngày 04/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số 19/2016/HSST ngày 19/01/2016, hình phạt chung phải chấp hành 01 năm 09 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 158/2016/HSST); ngày 21/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, xử phạt 01 năm 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 258/2019/HS-ST); ngày 18/12/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 368/2023/HS-ST), ngày 30/5/2024 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương;
Tiền sự: không;
Về nhân thân: Ngày 19/01/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 19/2016/HSST); ngày 18/3/2019, bị Công an thành phố H xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” (Quyết định số 0002324/QĐ-XPVPHC); ngày 21/12/2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Quyết định số 01/QĐ-UBND); ngày 14/4/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số 19/QĐ-TA);
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 25/01/2025 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Em Võ Nguyễn Phương L, sinh ngày 29/6/2009; địa chỉ: Số E Hồ N, phường V, quận T, thành phố H. Vắng mặt (có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Kiều N, ông Võ Văn L1; địa chỉ: Số E Hồ N, phường V, quận T, thành phố H. Đều vắng mặt (có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Võ Văn L1, sinh năm 1979; địa chỉ: Số E Hồ N, phường V, quận T, thành phố H. Vắng mặt (có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Trần Quang T, sinh năm 1979; địa chỉ: Số D T, phường V, quận T, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 03/12/2024, Phan Văn V đi bộ một mình từ nhà của mình đến khu vực Công viên L thuộc phường V, quận T với mục đích trộm cắp tài sản. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, V phát hiện xe máy điện biển số: 75MĐ-047.49 của em Võ Nguyễn Phương L(sinh năm 2009, nơi thường trú số E Hồ N, phường V, quận T, thành phố H) để trên vỉa hè đường L thuộc phường V, quận T, thành phố H, không có người trông coi. Quan sát thấy không có ai để ý, V đi đến ngồi lên xe máy điện tháo nắp hộp bình điện để lấy trộm bình điện nhưng không được; do sợ bị phát hiện nên V đẩy xe máy điện biển số: 75MĐ-047.49 đi một đoạn nhằm mục đích lấy trộm chiếc xe máy điện thì bị người dân phát hiện và giữ lại trình báo cho công an phường V giải quyết. Quá trình điều tra Phan Văn V đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
* Vật chứng tạm giữ và xử lý vật chứng: Xe máy điện nhãn hiệu KAZUKI, màu sơn đỏ đen, BKS: 75MÐ-047.49; số máy HFT60V800WA3220600285; số khung RNKYDEKUMNDC02063. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
* Tại bản Kết luận giám định số: 7034/KL ngày 19/12/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận: Tại thời điểm ngày 03/12/2024, xe máy điện BKS: 75MÐ-047.49, đã qua sử dụng, trị giá 4.500.000₫ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
* Trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại em Võ Nguyễn Phương L đã nhận lại xe máy điện, không yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số: 88/CT-VKSTH ngày 08 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa truy tố Phan Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Phan Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Xe máy điện nhãn hiệu KAZUKI, màu sơn đỏ đen, BKS: 75MÐ-047.49, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Nguyễn Phương L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa về tội danh đã truy tố và điều luật đề nghị áp dụng đối với bị cáo Phan Văn V. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn V với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình, lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 03/12/2024, bị cáo Phan Văn V đã có hành vi lợi dụng sơ hở của em Võ Nguyễn Phương Llén lút lấy trộm chiếc xe máy điện có biển số đăng ký: 75MĐ-047.49 để trên vỉa hè đường L thuộc phường V, quận T, thành phố H, trị giá 4.500.000 đồng, là đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, do bị cáo có tiền án đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H truy tố bị cáo Phan Văn V là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác; bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; nhiều lần bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Hành vi của bị cáo Phan Văn V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quan hệ sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật; bị cáo đã nhiều lần bị xét xử, kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để răn đe bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Nguyễn Phương L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Võ Văn L1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về xử lý vậy chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu 01 xe máy điện nhãn hiệu KAZUKI, màu sơn đỏ đen, BKS: 75MÐ-047.49; số máy HFT60V800WA3220600285; số khung RNKYDEKUMNDC02063 theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự,
- Xử phạt bị cáo Phan Văn V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/01/2025.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phan Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hiếu |
Bản án số 87/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 87/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 02 năm 03 tháng tù.
