trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – GIA LAI

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 87/2025/HS-ST

Ngày: 21-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Bình và ông Phạm Ngọc Đông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Trực - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 17/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2025/QĐXXST-HS ngày 30/10/2025, theo Quyết định hoãn phiên toà số 60/2025/HSST-QĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Tuyết H, giới tính: Nữ; sinh ngày 20/9/2001 tại tỉnh Gia Lai; CCCD: [...]; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ F, khu phố B, phường Q, tỉnh Gia Lai (Trước đây là khu phố B, phường G, TP ., tỉnh Bình Định); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1970; Con bà: Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1971; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11/10/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh G; Bị cáo có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Phạm Minh T – Luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh G bào chữa cho bị cáo do Toà án chỉ định (có mặt).

- Bị hại:

Vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1970 bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1971 (có mặt)

Đồng cư trú: Tổ F, khu phố B, phường Q, tỉnh Gia Lai.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Dương Đoàn Ngọc V, sinh năm 2001 (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, khu phố C, phường Q, tỉnh Gia Lai (Trước đây là tổ B, khu phố D, phường L, TP ., tỉnh Bình Định).

Nơi ở hiện nay: Số F T, phường Q, tỉnh Gia Lai (Trước đây là phường L, TP ., tỉnh Bình Định).

2. Chị Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 2001 (có mặt).

Nơi cư trú: Tổ G, khu phố C, phường Q, tỉnh Gia Lai (trước đây là Tổ 75, khu phố H, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định).

3. Anh Nguyễn Khoa Đ, sinh năm 2001 (vắng mặt).

Nơi cư trú: B P, phường Q, tỉnh Gia Lai (trước đây là 21 P, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định).

4. Bà Châu Thị Thanh T2, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Nơi cư trú: A T, phường Q, tỉnh Gia Lai.

5. Bà Bùi Thị Liên H1, sinh năm 1952 (vắng mặt).

Nơi cư trú: A T, phường Q, tỉnh Gia Lai.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu H2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Tuyết H là con của ông Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị Ngọc S cùng trú: Tổ F, Khu phố B, phường Q, tỉnh Gia Lai (trước đây là phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định). Do cần tiền trả nợ, đánh bạc trực tuyến và tiêu xài cá nhân, nên trong khoảng thời gian từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/4/2024, lợi dụng việc biết nơi cất giấu tài sản có giá trị, Nguyễn Thị Tuyết H đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông L, bà S, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 06 giờ sáng ngày 03/01/2024, Nguyễn Thị Tuyết H lợi dụng lúc ba mẹ đi vắng và để tránh việc ba mẹ phát hiện hành vi trộm cắp của mình nên H sử dụng điện thoại của mình chụp hình nguyên trạng chỗ để thùng phuy chứa lúa ba mẹ cất giấu tài sản. Sau đó, H lấy 02 cái thau ra chỗ thùng phuy đựng lúa mở nắp hốt lúa ra để tìm tài sản. Khi H hốt ra khoảng gần nửa thùng lúa thì thấy bên trong có 01 túi nylon màu đen được buộc chặt xung quanh, H biết là tài sản ba mẹ cất giấu nên H lấy ra. Lấy xong, H dùng thau đổ lúa lại trong phuy và sửa soạn lại như nguyên trạng ban đầu. Sau đó, H đi về phòng ngủ của mình và kiểm tra thấy bên trong túi nylon có 10 cọc tiền tờ mệnh giá 500.000 đồng tiền Việt Nam đồng được cột bằng dây thun (tổng số tiền là 500.000.000 đồng); 20 nhẫn tròn loại 01 chỉ vàng loại 97%, tổng trọng lượng 02 lượng vàng; 02 sợi dây chuyền vàng mỗi dây 05 chỉ, loại vàng 9999, tổng trọng lượng 01 lượng vàng; 01 mặt dây chuyền bằng vàng, loại vàng 9999 trọng lượng 01 chỉ vàng. Số tài sản trộm được nêu trên, H cất giấu trên đầu tủ quần áo trong phòng ngủ của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTTHS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai) kết luận: 02 lượng vàng nhẫn tròn loại 97% trị giá 121.460.000 đồng; 1.1 lượng vàng nữ trang loại 9999 trị giá 67.980.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị H chiếm đoạt ngày 03/01/2024 gồm 189.440.000 đồng giá trị vàng nhẫn, nữ trang và 500.000.000 đồng (tổng cộng trị giá 689.440.000 đồng).

- Lần thứ hai: Vào ngày 04/01/2024, sau khi lấy được tài sản trong thùng phuy chứa lúa nêu trên nên Nguyễn Thị Tuyết H nghĩ thùng phuy còn lại cũng có tài sản ba mẹ cất giấu. H chờ lúc ba mẹ không ở nhà, tiếp tục lục tìm tài sản trong thùng phuy chứa lúa còn lại. Với cách thức tương tự như lần thứ nhất, Nguyễn Thị Tuyết H lấy được 01 bì nylon màu đen bên trong có 100.000.000 đồng (gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng) được bó thành 02 cọc, mỗi cọc là 50.000.000 đồng; 25 nhẫn tròn loại 02 chỉ vàng, loại vàng 97%, tổng trọng lượng 05 lượng vàng; 50 nhẫn tròn loại 01 chỉ vàng, loại vàng 97%, tổng trọng lượng 05 lượng vàng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTTHS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai) kết luận: 10 lượng vàng nhẫn tròn loại 97% trị giá 607.300.000 đồng.

Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt vào ngày 04/01/2024 là 707.300.000 đồng

- Lần thứ ba: Vào ngày 12/4/2024, lợi dụng khi ba mẹ không có ở nhà, Nguyễn Thị Tuyết H đã lén vào phòng ngủ của ba mẹ, tìm kiếm tài sản trong tủ quần áo để lấy trộm. H lục tìm trong túi quần dài treo trong phòng ngủ của ông Nguyễn Ngọc L phát hiện có 06 nhẫn vàng tròn loại 01 chỉ nên H đã lấy số vàng đó đem về phòng của mình để cất giấu chờ đem đi bán. Sau đó, H lên ứng dụng Shopee đặt mua 06 chiếc nhẫn vàng giả về đem bỏ vào túi quần trước đó để ông L không phát hiện bị mất trộm.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTTHS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai) kết luận: 0.6 lượng vàng nhẫn tròn loại 97% trị giá 45.000.000 đồng.

Tài sản Nguyễn Thị Tuyết H chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Thị Ngọc S tổng cộng là: 1.441.740.000 đồng.

Sau khi chiếm đoạt được số vàng nêu trên, Nguyễn Thị Tuyết H 07 lần đem vàng trộm được đến bán tại Tiệm V1, địa chỉ: số A T, phường Q, tỉnh Gia Lai (trước đây là thành phố Q, tỉnh Bình Định) do bà Châu Thị Thanh T2 là chủ tiệm vàng. Ngoài ra, H còn 06 lần đem vàng trộm được đến bán tại tiệm V2, địa chỉ: số A T, phường Q, tỉnh Gia Lai (trước đây là thành phố Q, tỉnh Bình Định) (nay là A T, phường Q, tỉnh Gia Lai) do bà Bùi Thị Liên H1 là chủ tiệm vàng.

Số tài sản chiếm đoạt được, Nguyễn Thị Tuyết H dùng để trả nợ cá nhân cho chị Nguyễn Thị Hồng T1 số tiền 15.000.000 đồng; trả nợ cho anh Nguyễn Khoa Đ số tiền 15.000.000 đồng; dùng khoảng 1.200.000.000 đồng để đánh bạc trực tuyến trên trang website “shbet.cafe” nhưng thua hết; và tiêu xài cá nhân dẫn đến hết tiền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G, Nguyễn Thị Tuyết H đã tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên của mình.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G tạm giữ:

- 06 chiếc nhẫn hình tròn, màu vàng, không kiểm tra chất lượng, do Nguyễn Thị Tuyết H khai mua trên ứng dụng shopee là nhẫn giả để dùng đánh tráo với 06 chỉ vàng nhẫn tròn của ông Nguyễn Ngọc L.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh dung lượng 64GB, có số IMEI: 356560109935364, gắn sim số 0865000277, đã qua sử dụng.

- 01 thau tròn bằng kim loại màu trắng có đường kính 28,5cm và 01 thau tròn bằng nhựa màu xanh có đường kính 37cm, đã qua sử dụng.

Về dân sự: Vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị Ngọc S không yêu cầu Nguyễn Thị Tuyết H bồi thường đối với số tài sản bị chiếm đoạt và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can Nguyễn Thị Tuyết H. Đồng thời, vợ chồng ông L, bà S không yêu cầu Nguyễn Thị Hồng T1, Nguyễn Khoa Đ hoàn trả số tiền do Nguyễn Thị Tuyết H trả nợ cho T1 và Đ.

- Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSGL-P2 ngày 14/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt từ 08 năm đến 09 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với số vàng chiếm đoạt được:

- Đối với tiệm V1 (do bà Châu Thị Thanh T2 làm chủ): Hoa khai báo đã bán 07 (bảy) lần, tuy nhiên, chỉ có cơ sở xác định được 03 lần bán vàng có chuyển khoản, thu lợi bất chính số tiền 213.000.000 đồng.

- Đối với tiệm V2 (do bà Bùi Thị Liên H1 làm chủ): H khai đã có 06 (sáu) lần bán, thu lợi bất chính số tiền từ khoảng 69.000.000 đồng đến 71.000.000 đồng/mỗi lần bán. Tuy nhiên, không có tài liệu chứng cứ cụ thể chứng minh từng lần bán do các bên giao dịch không lập chứng từ, hóa đơn.

Tất cả số vàng trên hiện không thu hồi được. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông L, bà S không có yêu cầu khiếu nại gì và không yêu cầu H phải bồi thường nên không cần thiết truy thu.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy 02 thau nhựa, 06 chiếc nhẫn hình tròn, màu vàng hiện không có giá trị; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 của bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Luật sư Phạm Minh T trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Tôi thống nhất với tội danh và khung hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố đối với bị cáo, tuy nhiên tôi cũng kính mong HĐXX xem xét cân nhắc đánh giá toàn diện vụ án, xem xét động cơ mục đích của hành vi, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra trong vụ án này và bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS cũng như nhân thân của bị cáo chúng tôi xin nêu ra từng nội dung cụ thể phân tích thêm để HĐXX xem xét:

Thứ nhất, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa, HĐXX đã nghe lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của người bị hại thì thấy đây là một vụ án rất đặc biệt, điểm đặc biệt ở chỗ ông Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị Ngọc S là cha mẹ của bị cáo, ông L, bà S rất thương yêu bị cáo H nên đã dành dụm 600 triệu đồng và 13,7 lượng vàng để khi H trưởng thành, ông L, bà S cho H có vốn làm ăn, số tiền và vàng Hoa lén lút chiếm đoạt cũng chính là số tài sản sẽ thuộc về bị cáo H trong tương lai, nhưng vì suy nghĩ nông nổi ham chơi tiêu xài bị cáo H đã lén lút lấy tài sản trong tương lai của mình để rồi có kết cục đau lòng như ngày hôm nay. Hành vi của bị cáo theo quy định của pháp luật thì bị xử lý về tội Trộm cắp tài sản là đúng, nhưng cũng mong HĐXX xem xét tính đặc biệt của hành vi này là chiếm đoạt tài sản sẽ thuộc về mình trong tương lai, nếu như bị cáo H cần tiền hỏi xin thì ông L, bà S sẽ cho H mà không phải lén lút, không phải phạm tội bị xét xử như ngày hôm nay.

Thứ hai, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra đã chiếm đoạt của ông L, bà S số tiền 1.441.740.000đ nhưng ông L, bà S coi như là đã cho bị cáo H trước, vì vậy ở giai đoạn điều tra cũng như tại phiên Tòa ông L, bà S không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã chiếm đoạt và còn tự nguyện xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS “Người bị hại xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” quy định tại Khoản 2, Điều 51 BLHS. Đồng thời anh ruột của bị cáo là Nguyễn Hữu H2 thay mặt bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Ngọc S số tiền 10.000.000 đồng, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Thứ ba, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo H hối hận về hành vi phạm tội của mình nên đã đến cơ quan Công an tự thú; quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm r, s khoản 1, Điều 51 BLHS.

Thứ tư, trước khi phạm tội bị cáo là một công dân tốt, không có tiền án, tiền sự bị cáo kinh doanh mua bán, khi lên mạng máy tính thì bị kẻ xấu lừa gạt nên bị nợ nần thua lỗ, suy nghĩ túng quẫn dẫn dắt bị cáo vi phạm pháp luật hình sự nay bị cáo đã quá hối hận.

Kính thưa HĐXX, bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H có 04 tình tiết giảm nhẹ TNHS trong đó có 03 tình tiết giảm nhẹ ở Khoản 1, Điều 51 BLHS và 1 tình tiết giảm nhẹ ở Khoản 2, Điều 51 BLHS và trước khi phạm tội bị cáo H có nhân thân tốt, quan trọng nhất là thái độ ăn năn hối cải của bị cáo vì vậy kính mong HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, vừa tạo cơ hội để bị cáo cải tạo sớm trở thành công dân tốt, vừa răn đe giáo dục phòng ngừa chung cho toàn xã hội, vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật nhưng cũng đồng thời thể hiện tính nhân đạo khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

Căn cứ Điểm a, khoản 4, Điều 173 BLHS, căn cứ điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2, Điều 51 BLHS, căn cứ Điều 54 BLHS, căn cứ vào nhân thân, thái độ ăn năn hối cải của thân chủ tôi Nguyễn Thị Tuyết H, đề nghị HĐXX xem xét tuyên phạt Nguyễn Thị Tuyết H mức án từ 7 năm đến 8 năm tù. Mức án trên cũng đủ cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định (Nay là Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai), Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Gia Lai), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/4/2024, do cần tiền trả nợ, đánh bạc trực tuyến và tiêu xài cá nhân, bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H đã 03 lần lén lút chiếm đoạt tài sản của cha mẹ ruột là ông Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị Ngọc S, với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 1.441.740.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, coi thường pháp luật và quyền sở hữu tài sản của người khác, bị cáo đã lợi dụng lúc cha mẹ vắng nhà để thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần với giá trị tài sản chiếm đoạt là đặc biệt lớn. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H thì thấy rằng:

4.1 Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H có nhân thân tốt, trước đây chưa vi phạm gì.

4.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần đều cấu thành tội phạm, nên phạm tội với tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã ra tự thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, do đó khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, trở thành người có ích cho xã hội.

Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo cung cấp giấy nhận tiền bồi thường của anh Nguyễn Hữu H2 (anh ruột bị cáo) đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Ngọc S số tiền 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, qua quá trình xét hỏi đã làm rõ, bà S không có nhận số tiền 10.000.000 đồng từ anh H2, đồng thời anh H2 cũng khai chưa đưa số tiền 10.000.000 đồng cho bà S, nên HĐXX không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “bồi thường thiệt hại” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[5] Về bồi thường thiệt hại:

- Bị hại Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị Ngọc S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường tài sản bị chiếm đoạt nên HĐXX không xem xét giải quyết.

- Số tiền chiếm đoạt của ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị Ngọc S bị cáo đem trả nợ cho chị Nguyễn Thị Hồng T1 số tiền 15.000.000 đồng; trả nợ cho anh Nguyễn Khoa Đ số tiền 15.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông L và bà S không yêu cầu thu hồi để trả lại nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[6] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ 06 nhẫn hình tròn màu vàng, 02 cái thau (01 thau nhựa và 01 thau bằng kim loại) và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh dung lượng 64GB, có số IMEI: 356560109935364, gắn sim số 0865000277, đã qua sử dụng. Xét thấy, 06 nhẫn tròn bị cáo mua với giá 15.000 đồng nhằm mục đích đánh tráo vào 06 nhẫn vàng mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại, còn 02 cái thau của ông L và bà S bị cáo sử dụng vào việc phạm tội (múc lúa trong thùng phuy ra để chiếm đoạt tài sản), 06 nhẫn tròn hiện không có giá trị, 02 cái thau ông L và bà S không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với điện thoại Iphone 11 của bị cáo, bị cáo sử dụng làm phương tiện để chiếm đoạt tài sản của bị hại, điện thoại có giá trị nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, còn sim của điện thoại không có giá trị nên tiêu huỷ.

[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

[8] Vấn đề khác:

- Đối với hành vi đánh bạc trực tuyến trên trang website “shbet.cafe” của Nguyễn Thị Tuyết H: H khai chơi cá cược trên trang website “shbet.cafe” từ tháng 08/2023 đến tháng 04/2024. H sử dụng tài khoản đánh bạc tên “Bekem209”, mật khẩu “Hoa2009” để đăng nhập vào trang website “shbet.cafe”. Khi muốn nộp tiền vào tài khoản đánh bạc, trang web đưa ra 01 mã QR để H quét mã thì sẽ có 01 tài khoản ngân hàng để H chuyển tiền vào, mỗi lần nộp tiền thì trang web sẽ đưa ra 01 tài khoản ngân hàng khác nhau. H chơi đánh bạc bị thua khoảng 1.200.000.000 đồng. Thời điểm làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra thì trang website “shbet.cafe” đã dừng hoạt động, không truy cập được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu thập được dữ liệu đánh bạc của Nguyễn Thị Tuyết H. Ngày 04/06/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (cũ) có công văn số 3261/ĐN-CSHS cho Phòng C1 Công an tỉnh B (cũ) yêu cầu phối hợp với Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng Công nghệ cao (A05) – Bộ C2 để thu thập dữ liệu đánh bạc của tài khoản đánh bạc “Bekem209”, mật khẩu “Hoa2009” trên trang website “shbet.cafe”, kết quả Cục A không cung cấp được. Hiện chưa đủ căn cứ xử lý Nguyễn Thị Tuyết H về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Đối với D Đoàn Ngọc V là bạn trai của Nguyễn Thị Tuyết H: V rủ H cùng tham gia đánh bạc trên trang website "shbet.cafe". V sử dụng tài khoản “A815141a”, mật khẩu là “031001Aa” để đánh bạc từ cuối năm 2023 đến khoảng đầu năm 2024 thì nghỉ. Trong thời gian quen nhau, V không biết và cũng không xúi giục H trộm cắp tài sản của ba mẹ. Giữa V và H có mượn tiền qua lại với nhau với số tiền nhỏ (khoảng 500.000 đồng trở xuống) do H sử dụng tiền cá nhân cho mượn, H không lấy số tiền do trộm cắp của ba mẹ để cho V mượn. Cơ quan điều tra không thu thập được dữ liệu đánh bạc của V. Do đó, chưa đủ căn cứ xử lý Dương Đoàn Ngọc V về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Đồng thời, D Đoàn Ngọc V không biết, không tham gia, không hứa hẹn với Nguyễn Thị Tuyết H đối với hành vi trộm cắp tài sản của H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với V là có căn cứ.

- Đối với Nguyễn Thị Hồng T1: Giữa chị T1 và Nguyễn Thị Tuyết H có quan hệ bạn bè với nhau, chị T1 không biết số tiền 15.000.000 đồng được H trả nợ cho mình là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với chị T1 là có căn cứ.

- Đối với Nguyễn Khoa Đ: Giữa anh Đ và Nguyễn Thị Tuyết H có quan hệ bạn bè với nhau, anh Đ không biết số tiền 15.000.000 đồng được H trả nợ do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với anh Đ là có căn cứ.

- Đối với bà Bùi Thị Liên H1: bà H1 có 06 lần thực hiện mua vàng do Nguyễn Thị Tuyết H mang đến bán. Tuy nhiên, bà H1 cũng không xác định được việc H đến bán vàng với lý do mua bán vàng với rất nhiều người và trong thời gian quá lâu, quá dài nên bà H1 không nhớ; bà H1 không hỏi nguồn gốc vàng và H không nói vàng đem đến bán là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với bà H1 là có căn cứ.

- Đối với bà Châu Thị Thanh T2: bà T2 có thực hiện 07 lần mua vàng do Nguyễn Thị Tuyết H mang đến bán; trong đó có 03 lần mua vàng và chuyển khoản cho Nguyễn Thị Tuyết H, cụ thể là: lần 1 vào ngày 17/05/2024, mua vàng của H với số tiền 71.200.000 đồng; lần 2 vào ngày 18/05/2024, mua vàng của H với số tiền 71.600.000 đồng; lần 3 vào ngày 01/06/2024, mua vàng của H với số tiền 70.200.000 đồng. Đối với những lần bà T2 mua vàng khác của H thanh toán bằng tiền mặt thì bà T2 không nhớ rõ với lý do lượng khách ra vào mua bán vàng nhiều nên không nhớ hết. Khi mua vàng, bà T2 không hỏi H nguồn gốc vàng, H cũng không nói vàng đem đến bán là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với bà T2 là có căn cứ. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra yêu cầu bà Châu Thị Thanh T2 cung cấp các hóa đơn chứng từ liên quan đến 03 lần mua vàng của bị can Nguyễn Thị Tuyết H vào các ngày 17/05/2024, 18/05/2024, ngày 01/06/2024 (ngày tiệm vàng có phát sinh giao dịch chuyển khoản mua bán vàng với H) thì bà T2 chỉ cung cấp 03 tờ giấy “Bảng kê chi tiết thu mua hàng nữ trang” của DNTN hiệu vàng Ngọc Thiện 1 vào các ngày 17/05/2024, 18/05/2024 và ngày 01/06/2024 mà không có hóa đơn, chứng từ theo quy định. Xét thấy, tiệm V1 1 của bà Châu Thị Thanh T2 có dấu hiệu “Trốn thuế” vi phạm quy định của pháp luật có liên quan trong lĩnh vực kinh doanh vàng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển thông tin này đến cơ quan thuế để kiểm tra, xác minh theo thẩm quyền.

[9] Xét lời bào chữa của luật sư Phạm Minh T cho bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H được HĐXX xem xét đầy đủ, toàn diện. Trên cơ sở đó, HĐXX sẽ đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo.

[10] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Gia Lai: Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và các phần đề nghị khác phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2024.

3. Về bồi thường dân sự: Bị hại Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị Ngọc S không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H phải bồi thường tài sản bị chiếm đoạt nên HĐXX không xem xét giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy:
    • + 01 (một) thau tròn bằng kim loại màu trắng có đường kính 28,5 cm và 01 thau tròn bằng nhựa màu xanh có đường kính 37cm được đựng trong bì nilông màu đen dán kín đã niêm phong bằng chữ ký của Nguyễn Thị Tuyết H, Trương Ngọc Q.
    • + 06 (sáu) chiếc nhẫn hình tròn, màu vàng, không kiểm tra chất lượng đựng trong phong bì dán kín đã niêm phong bằng chữ ký của Nguyễn Thị Tuyết H, Diệp Truy C, Lê Đào Đ1.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh dung lượng 64GB, có số IMEI: 356560109935364, gắn sim số 0865000277, đã qua sử dụng đựng trong phong bì dán kín đã niêm phong bằng chữ ký của Nguyễn Thị Tuyết H, Nguyễn Tấn K (sim của điện thoại thì tiêu huỷ).

Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 20/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

5. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND khu vực 1 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

(Đã ký và đóng dấu)

Ngô Đình Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/HS-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 87/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: rong khoảng thời gian từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/4/2024, do cần tiền trả nợ, đánh bạc trực tuyến và tiêu xài cá nhân, bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H đã 03 lần lén lút chiếm đoạt tài sản của cha mẹ ruột là ông Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị Ngọc S, với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 1.441.740.000 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger