TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2025/HS - ST Ngày: 08/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | Ông Vũ Thanh Tùng |
| Các Hội thẩm nhân dân | Ông Nguyễn Phan Anh |
| Bà Dương Tú Anh | |
| Thư ký ghi biên bản phiên tòa | Bà Trần Phương Ly |
Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:
Ông Lương Tuấn Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 08/4/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2025/HSST ngày 21/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐXXST-HS ngày 24/3/2025 đối với bị cáo có lý lịch như sau:
Họ và tên: Nguyễn Đức T - Sinh năm 1999; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Thôn P, xã H, huyện P, Hà Nội; Chỗ ở hiện tại: Không cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà: Phạm Thị C – Sinh năm: 1967; Con ông: Nguyễn Quang T1 – sinh năm 1965; D chỉ bản số 104 lập ngày 19/01/2025 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: 02 Tiền án; Ngày 22/9/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 84/2022/HS-ST; Phạm tội ngày 16/5/2022). Đã nộp án phí và nộp tiền thu lợi bất chính sung ngân sách Nhà nước (6.400.000 đồng) vào ngày 08/12/2022; Ngày 05/01/2023, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 03/2023/HSST; Phạm tội ngày 25/4/2022 và 15/5/2022). Tổng hợp hình phạt với bản án số 84/2022/HS-ST ngày 22/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, buộc chấp hành hình phạt chung là 02 năm 06 tháng tù. Ra trại ngày 15/8/2024 (chưa xóa án tích); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/1/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại giam S – Công an thành phố H.
( Bị cáo có mặt tại phiên toà).
Người bị hại: Chị Nguyễn Phương A, sinh năm 2006.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội;
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Hộ kinh doanh H1;
Địa chỉ: Số A P, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo uỷ quyền: Anh Bàn Văn H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số A P, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm nên Nguyễn Đức T (sinh năm 1999; Trú tại thôn P, xã H, huyện P, Hà Nội) nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 09/12/2024, T đi bộ lang thang một mình vào các ngõ ngách trên địa bàn quận Đ để tìm sơ hở trộm cắp tài sản. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, T đi đến khu vực ngách A ngõ T, phường T, quận Đ, Hà Nội thì phát hiện cổng ngoài nhà số A ngách A ngõ T không đóng, không khóa, bên trong sân nhà có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh, biển kiểm soát 29AD - 066.16, đầu xe hướng vào trong nhà, đuôi xe hướng về phía cồng ngoài (xe thuộc sở hữu của chị Nguyễn Phương A - Sinh năm 2006; Trú tại thôn T, xã T, huyện B, Hà Nội), xe không có ai trông giữ. T đi vào trong sân kiểm tra phát hiện xe không khóa cổ, khóa càng, chỉ khóa điện. Lúc này T thấy cửa phía trong nhà cũng không khóa nên mở cửa đi vào bên trong nhà và phát hiện có 01 chùm chìa khóa (trong đó có cả chìa khóa của xe H2) trên giá để giày dép ngay gần cửa ra vào. T lấy chùm chìa khóa rồi đi ra ngoài mở khóa điện và điều khiển chiếc xe Honda Vision màu xanh, biển kiểm soát 29AD - 066.16 đi ra ngoài. T mở cốp xe kiểm tra thấy bên trong có 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Phương A và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe Honda Vision màu xanh, biển kiểm soát 29AD - 066.16, số 29001146, mang tên Nguyễn Phương A. Thịnh chụp ảnh lại hai giấy tờ trên rồi vứt Căn cước công dân mang tên chị Nguyễn Phương A trên đường đi. Sau đó, T đem xe máy vừa trộm cắp được gửi vào một hàng trông xe ở khu vực quận H, Hà Nội.
Đến ngày 12/12/2024, T đem xe Honda Vision màu xanh, biển kiểm soát 29AD - 066.16 đến Bến xe M, phường M, quận N, Hà Nội rồi thuê xe khách vận chuyển chiếc xe trên vào thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, T lên xe khách khác vào thành phố Hồ Chí Minh. T nhận chiếc xe Honda Vision màu xanh, biển kiểm soát 29AD - 066.16 từ nhà xe rồi thuê trọ tại nhà số B H, phường E, quận B, thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi lại.
Ngày 03/01/2025, do hết tiền tiêu nên T mang chiếc xe Honda Vision màu xanh, biển kiểm soát 29AD - 066.16 đến cửa hàng C1 (địa chỉ tại số nhà A phố P, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh) của anh Bàn Văn H (sinh năm 1993; Nơi ĐKNKTT tại thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Chỗ ở tại số nhà A phố P, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh) để cầm cố chiếc xe trên. T đưa anh H 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe đứng tên chị Nguyễn Phương A và nói với anh H đây là xe của T mua nhưng chưa kịp làm thủ tục sang tên. Anh H đã đồng ý nhận cầm cố chiếc xe với số tiền 25.400.000 đồng. Số tiền này sau đó T đã tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 06/01/2025, chị Nguyễn Phương A đến Công an phường T trình báo việc bị mất trộm tài sản và giao nộp 01 USB bên trong có đoạn video trích xuất từ camera, ghi lại nội dung sự việc.
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 09/01/2025, Nguyễn Đức T đến Công an phường T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Tại Cơ quan điều tra, T khai không nhớ được tên, địa chỉ quán trông xe ở khu vực H; không nhớ được tên nhà xe mà T đã thuê để vận chuyển xe Honda Vision màu xanh, biển kiểm soát 29AD-066.16 từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh. Đối với Căn cước công dân mang tên Nguyễn Phương A, T không nhớ đã vứt ở đâu.
Vật chứng vụ án
Quá trình điều tra, Cơ quan Công an đã tạm giữ những đồ vật, tài liệu sau:
- Tạm giữ của Nguyễn Đức T: 01 giấy biên nhận cầm cố tài sản xe Honda Vision, biển kiểm soát 29AD-066.16; bên cầm đồ: Bàn Văn H; Người cầm đồ: Nguyễn Đức T.
- Tạm giữ của anh Bàn Văn H: 01 xe Honda Vision màu xanh, biển kiểm soát 29AD-066.16, số khung RLHJK0359RY325024, số máy: JK03E-3504075; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 29001146 đứng tên Nguyễn Phương A và 01 chìa khóa Smartkey.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 20/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận:
“01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vision màu xanh, đeo biển kiểm soát 29AD-066.16, SK 325024, SM 504075, đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá 35.000.000 đồng.”
Tại bản Kết luận giám định số 1219/KL-KTHS ngày 11/02/2025 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:
“Xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xanh, đeo biển kiểm soát: 29AD-066.16. Số khung RLHJK0359RY325024, số máy: JK03E-3504075 là số nguyên thủy."
Đối với anh Bàn Văn H, quá trình điều tra đã xác định khi nhận cầm cố xe cho Nguyễn Đức T, anh H không biết là tài sản do T phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý.
Xử lý vật chứng
Ngày 28/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả 01 chiếc xe nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 29AD-066.16, số khung: RLHJK0359RY325024, số máy: JK03E-3504075; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 29001146 đứng tên Nguyễn Phương A và 01 chìa khóa Smartkey cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Phương A.
Trách nhiệm dân sự
- Người bị hại là chị Nguyễn Phương A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự.
- Đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Bàn Văn H yêu cầu Nguyễn Đức T hoàn trả số tiền 25.400.000 đồng.
Cáo trạng số 69/CT-VKSĐĐ ngày 18/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo T thừa nhận việc bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 20 tháng đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025. Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 BLHS.
Về xử lý vật chứng: Không
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Phương A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan yêu cầu Nguyễn Đức T hoàn trả số tiền 25.400.000 đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền trên;
Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm khuyết điểm trở thành người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.
Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến về việc vắng mặt người bị hại, người liên quan và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an quận Đ đã tiến hành lấy lời khai, làm rõ các tình tiết trong vụ án, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu về bồi thường dân sự nên căn cứ Điều 292 BLTTHS năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 09/12/2024, Nguyễn Đức T đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh, biển kiểm soát 29AD-066.16 của chị Nguyễn Phương A tại nhà số A ngách A ngõ T, phường T, quận Đ, Hà Nội. Trị giá tài sản Nguyễn Đức T chiếm đoạt là 35.000.000 đồng, do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội nói chung và gây hoang mang lo sợ trong quá trình gìn giữ tài sản ở địa phương nói riêng. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức pháp luật đầy đủ, song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác, vì động cơ tham lam, tư lợi muốn có tiền tiêu sài, nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo có 02 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và đáp ứng phòng, chống tội phạm chung trong toàn xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định hình phạt phù hợp.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, khi bị cơ quan công an phát hiện bị cáo đầu thú, người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra bị cáo T có ông nội là liệt sĩ. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng: Không
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã trả lại cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Người có quyền lợi và nghĩa vụ yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức T hoàn trả số tiền 25.400.000 đồng, bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường toàn bộ số tiền này cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vấn đề khác: Đối với anh Bàn Văn H, quá trình điều tra đã xác định khi nhận cầm cố xe cho Nguyễn Đức T, anh H không biết là tài sản do T phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2/ Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (Tái phạm); Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đức T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025.
3/ Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
4/ Án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.
Bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Tùng |
Bản án số 87/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 87/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản". Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đức T 18 (mười tám) tháng tù.
