TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2025/ HS-ST Ngày: 10/6/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Đức Thọ;
Ông Nguyễn Văn Luận.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tham gia phiên toà: ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2025/TLST - HS ngày 14 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1.1. Họ và tên: Nguyễn Hải N ( tên gọi khác: Không), sinh năm 1988; tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: số nhà C, ngõ A, đường T, phố B, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: nhân viên IT. Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn M và bà Nghiêm Thị Hồng L; vợ: (đã ly hôn) và 02 con;
Tiền án, tiền sự: không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2024 đến ngày 27/9/2024, chuyển tạm giam, Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay; (có mặt).
1.2. Họ và tên: Nguyễn Văn K ( tên gọi khác: Không), sinh năm 1990; tại thành phố H, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch:Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị H; vợ: Phạm Thị L1 và 01 con;
Tiền án, tiền sự : Không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2024 đến ngày 27/9/2025, chuyển tạm giam, Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay; (có mặt).
1.3. Họ và tên: Trần Văn Đ ( tên gọi khác: Không), sinh năm 1992; tại thành phố H, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: số nhà B, đường T, phố P, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: nhân viên IT. Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Đình T và bà Giang Thị D1; vợ, con: không;
Tiền án, tiền sự : Không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2024 đến ngày 27/9/2025, chuyển tạm giam, Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay; (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Đình P, sinh năm 1992. Địa chỉ: số nhà F, đường X, thôn T, xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; (vắng mặt);
- Chị Lường Thị T1, sinh năm 2001. Địa chỉ: thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện nay: thôn Á, xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt);
* Người làm chứng:
- Anh Đàm Quang T2, sinh năm 1993; (vắng mặt);
- Chị Bùi Thị Kiều P1, sinh ngày 01/3/2008; (vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp của chị P1: ông Bùi Văn C, sinh năm 1988 và bà Bùi Thị H1, sinh năm 1989; (vắng mặt);
- Chị Lò Thị L2, sinh năm 2005; (vắng mặt);
- Chị Đoàn Thị Thanh L3, sinh năm 2005; (vắng mặt);
* Người chứng kiến: ông Phạm Hồng N1, sinh năm 1958; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau:
Nguyễn Hải N và Nguyễn Văn K là bạn bè quen biết nhau. Chiều ngày 18/9/2024, N và K cùng nhau đi uống bia, đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N và K đến thuê phòng VIP6 tại quán K2, địa chỉ tại số F, đường X, thôn T, xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình để hát. Nguyễn Hải N gọi điện thoại rủ bạn là Đàm Quang T2 đến quán uống bia và hát. Khi đến quán, K bảo chủ quán K2 bố trí 03 nhân viên nữ lên phòng để phục vụ rót bia và chọn bài hát. Một lúc sau Lường Thị T1, Lò Thị L2 và Bùi Thị Kiều P1 vào phòng ngồi hát và rót bia. Trong quá trình hát, N gặp bạn là Trần Văn Đ vừa hát ở phòng VIB5 ra nên đã rủ Đ sang phòng VIB6 để cùng hát và uống bia, Đ đồng ý. T2 yêu cầu nhân viên quán bố trí thêm 01 nhân viên nữ nữa để phục vụ, khoảng 15 phút sau Đoàn Thị Thanh L3 vào phòng rót bia và chọn bài hát. Quá trình ngồi uống bia và hát Karaoke, N nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đã nói với K “Đang có chuyện buồn, lấy ít đồ về chơi” - Ý N2 là mua ma tuý “kẹo” và “ke” về để cùng nhau sử dụng, K đồng ý. N2 bảo với Đ ở lại sử dụng ma túy, Đ đồng ý nói miễn sao vui là được. N2 và K đi ra ngoài cửa phòng hát và thống nhất sẽ mua 01 chỉ ma túy “ke” và 02 viên ma túy “kẹo”. Do Ký có số điện thoại 0963.848.xxxcủa T3 là người có bán ma tuý nên K đưa cho N2 để N2 liên hệ mua ma túy và chuyển khoản số tiền 2.400.000 đồng cho N2 để N2 trả tiền mua ma tuý. Sau đó N2 gọi điện, nhắn tin vào số 0963.848.597 của người nam giới tên T3 hỏi mua 02 viên ma tuý “kẹo” và 01 chỉ ma tuý “ke” với giá 2.400.000 đồng. Người này đồng ý và nói N2 chuyển tiền mua ma tuý vào tài khoản số 0943681463 của Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1). N2 đã chuyển khoản cho T3 số tiền 2.400.000 đồng và hẹn T3 mang ma tuý đến quán K2 cho N2. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T3 gọi điện thoại cho N2 thông báo đã mang ma túy đến quán K2. N2 đi xuống đường trước cửa quán thì nhìn thấy 01 chiếc xe taxi của hãng M2. Lúc này một người đàn ông ngồi ở ghế sau bên phải đã hạ cửa kính và ra hiệu cho N2. N2 đi đến gần thì người đàn ông đưa cho N2 một gói giấy vệ sinh màu trắng rồi đi luôn. Ninh mang gói ma túy vừa mua được lên phòng VIP6 và đặt lên đĩa sứ ở trên mặt bàn. Đ nhìn thấy và biết N2 đã mua được ma túy nên Đ nói với N2 và Ký “Đồ lên rồi thì chia ba” – ý Đ là số tiền mua ma túy sẽ chia cho ba người (gồm N2, Ký và Đ). Ký mở gói giấy vệ sinh và thấy bên trong chứa 02 viên ma túy “kẹo” màu hồng và 01 túi ma túy “ke” được gói bằng túi nilon, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Ký lấy 02 viên ma túy “kẹo” bẻ thành nhiều mảnh nhỏ, bỏ vào cốc nhựa rồi đổ nước ngọt C1 vào lắc đều. Ký, N2 và Đ lần lượt sử dụng bằng hình thức uống trực tiếp. Sau khi uống xong, Ký mượn của chị T1 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng để cuộn thành ống hút sử dụng ma túy “ke”, Ký đổ ma túy “ke” ra đĩa sứ và dùng bật lửa hơ nóng phía dưới đĩa. Ký hỏi “Ai có thẻ nhựa không?” thì Đ đưa cho Ký 01 chiếc thẻ nhựa cứng màu xanh, K dùng thẻ nhựa để nghiền mịn ma túy (xào ke). Sau đó, Nguyễn Văn K cùng với Nguyễn Hải N, Trần Văn Đ, Bùi Thị Kiều P1, Đàm Quang T2 và Đoàn Thị Thanh L3 cùng nhau sử dụng ma túy “ke” bằng hình thức hít. Còn chị Lò Thị L2 và Lường Thị T1 không sử dụng ma túy.
Hồi 01 giờ 40 phút ngày 19/9/2024, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp với Công an xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng VIP6 của quán K2, lúc này trong phòng có Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn K, Trần Văn Đ, Bùi Thị Kiều P1, Đàm Quang T2, Đoàn Thị Thanh L3, Lò Thị L2 và Lường Thị T1. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ tại mặt bàn đối diện màn hình tivi có 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 20cm, trên mặt đĩa có bám dính chất dạng bột màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn thành hình ống, bọc hai đầu bằng giấy vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng và 01 thẻ nhựa cứng màu xanh; 01 bật lửa ga màu xanh (chất dạng bột màu trắng được niêm phong trong phòng bì ký hiệu VIP6); thu giữ tại mặt bàn phía bên phải từ cửa vào 01 cốc nhựa trong suốt có quai cao 11cm, phần đáy cốc có bám dính dị vật màu hồng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS21912728). Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Biển kiểm soát 35F5-5564 của Nguyễn Văn K; thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave S Biển kiểm soát 35B1-640.61 của Nguyễn Hải N; thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Trần Văn Đ; thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade Biển kiểm soát 35B2-826.32 của Đàm Quang T2; thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Đoàn Thị Thanh L3; thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Lường Thị T1; thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi của Lò Thị L2; thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Bùi Thị Kiều P1.
Tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu VIP6 có khối lượng 0,0254 gam (ký hiệu M) để xác định khối lượng chất ma túy, loại chất ma túy. Đồng thời cũng gửi giám định phong bì niêm phong ký hiệu PS21912728 để xác định khối lượng chất ma túy, loại chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 822/KL-KTHS-MT ngày 27/9/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: Không tìm thấy các chất ma túy bám dính trong cốc nhựa gửi giám định. Mẫu ký hiệu M gửi giám định có khối lượng 0,0254 gam, là ma túy, loại Ketamine. Ketamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. H2 lại đối tượng giám định gồm 01 cốc nhựa và 01 vỏ túi nilon ký hiệu M (mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
Tiến hành thu mẫu nước tiểu của các đối tượng để trưng cầu giám định ma tuý. Tại bản Kết luận giám định số 823/KL-KTHS-MT ngày 27/9/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu của Lò Thị L2 và Lường Thị T1 gửi giám định; Tìm thấy Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Bùi Thị Kiều P1, Đàm Quang T2; Tìm thấy MDMA và Ketamine trong các mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn K, Trần Văn Đ, Đoàn Thị Thanh L3. MDMA là chất ma túy có số thứ tự 11, thuộc bảng Danh mục IB, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Ketamine là chất ma túy thuộc bảng danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. H2 lại đối tượng giám định: mẫu đã sử dụng hết.
Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu đen lắp sim 0972698822 thu giữ của Nguyễn Văn K: trong danh bạ có lưu số điện thoại 0963.848.xxx không lưu tên, K khai là số điện thoại của T3; trong ứng dụng T4 có lịch sử chuyển tiền lúc 22 giờ 56 phút ngày 18/9/2024 từ tài khoản tên Nguyen Van K1 tới tài khoản N5 số tiền 2.400.000 đồng.
Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu bạc lắp sim số 0946707567 thu giữ của Phạm Hồng N1: có các cuộc gọi đi tới số 0963848597, N1 khai là số điện thoại mà K đã cho N1 để liên lạc mua ma túy vào lúc 22 giờ 43 phút và 22 giờ 44 phút ngày 18/9/2024; tại tin nhắn, cuộc gọi zalo giữa số điện thoại của N1 với số điện thoại của 0963.848.xxx tên “Tung” có các cuộc gọi nhắn tin từ lúc 22 giờ 46 phút đến 22 giờ 55 phút ngày 18/9/2024 liên quan đến việc trao đổi mua ma túy; có tin nhắn giao dịch nhận tiền từ tài khoản của K chuyển cho N1 2.400.000 đồng ; có giao dịch chuyển tiền đi lúc 23 giờ 08 phút ngày 18/9/2024 từ tài khoản của N1 chuyển tiền vào số tài khoản 0943681463 có tên L5.
Kiểm tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen lắp sim số 0865199235 của Trần Văn Đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Đàm Quang T2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Đoàn Thị Thanh L3; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Lường Thị T1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi của Lò Thị L2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Bùi Thị Kiều P1: không có nội dung liên quan đến vụ án.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade Biển kiểm soát 35B2-826.32 cho Đàm Quang T2; trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone cho Đoàn Thị Thanh L3; trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone cho Lường Thị T1; trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi cho Lò Thị L2; trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone cho Bùi Thị Kiều P1; trả lại cho anh Nguyễn Chí L4 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave S Biển kiểm soát 35B1-640.61 thu của Nguyễn Hải N.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda gắn Biển kiểm soát35F5-5564; số khung RLHHA0801AY314201, số máy HA08E-1614199 thu của Nguyễn Văn K để tiếp tục xác minh, xử lý.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển đến Chi cục thi hành án thành phố Hoa Lư để giải quyết cùng vụ án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu của Nguyễn Hải N; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu của Nguyễn Văn K; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu của Trần Văn Đ; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn thành hình ống; 01 thẻ nhựa cứng màu xanh; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 cốc nhựa trong suốt có quai, các vỏ túi nilon và vỏ phong bì niêm phong ban đầu.
* Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn K, Trần Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như nội dung vụ án nêu trên. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai phù hợp với nội dung vụ án.
* Tại cáo trạng số 69/CT- VKS-TPHL, ngày 14 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn K, Trần Văn Đ ra trước Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn K, Trần Văn Đ phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải N từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/9/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/9/2024.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/9/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền vì các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không nhằm mục đích vụ lợi.
- Về xử lý vật chứng và các tài sản đã thu giữ: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự :
+ Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 01 thẻ nhựa cứng màu xanh; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 cốc nhựa trong suốt có quai; các vỏ túi ni lon và vỏ phong bì niêm phong ban đầu là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng.
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 20.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu của Nguyễn Hải N; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung thu của Nguyễn Văn K là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
+ Trả lại cho Trần Văn Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone là tài sản của Trần Văn Đ không liên quan đến việc phạm tội.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội; Các bị cáo Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn K, Trần Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo 200.000 đồng.
* Tại phiên tòa: các bị cáo Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn K, Trần Văn Đ nhất trí với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận gì với kiểm sát viên. Lời nói sau cùng : các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với bản tự khai, lời khai, của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản sự việc lập tại quán K2; biên bản xét nghiệm ma túy, bản kết luận giám định số 823/KL-KTHS-MT ngày 27/9/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N về mẫu nước tiểu thu giữ của các bị cáo và một số người trong phòng VIP6 có ma túy; biên bản kiểm tra điện thoại của bị cáo N, bị cáo K; kết luận giám định số 822/KL-KTHS-MT ngày 27/9/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N về chất bột mầu trắng thu giữ tại đĩa sứ trong phòng VIP6, sao kê tài khoản N5, T4... Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 23 giờ ngày 18/9/2024 đến khoảng 01 giờ 40 phút ngày 19/9/2024, tại phòng Vip 6 của quán K2, địa chỉ tại số F, đường X, thôn T, xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn K, Trần Văn Đ là khách của quán hát đã thực hiện hành vi bàn bạc, thống nhất ý chí, chuẩn bị địa điểm, mua ma túy, tổ chức cho chính bản thân cùng nhau sử dụng và cung cấp ma túy cho 03 người khác là anh Đàm Quang T2, chị Đoàn Thị Thanh L3 và chị Bùi Thị Kiều P1, sinh ngày 01/3/2008 cùng sử dụng trái phép chất ma túy, loại Ketamine và MDMA thì bị phát hiện bắt giữ.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn K, Trần Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; trong cùng một lần Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn K, Trần Văn Đ tổ chức cho 2 người trở lên sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó chị Bùi Thị Kiều P1 tại thời điểm sử dụng trái phép chất ma túy chưa đủ 18 tuổi, do khối lượng ma túy, loại Ketamine khi bị thu giữ giám định chỉ còn 0,0254 gam nên tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b ( đối với 2 người trở lên) và điểm c ( đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi) khoản 2 Điều 255 BLHS.
Điều 255 BLHS: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;
5. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội, đến sức khoẻ của con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác... Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng... nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân, ăn chơi, hưởng thụ, các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
- Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo N có bố đẻ là thương binh; bị cáo Ký có bố đẻ đang thờ cúng liệt sỹ; bị cáo Đ có bà nội được Chủ tịch nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì là người có công với với cách mạng nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
- Về vai trò của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, tiếp nhận ý chí và cùng nhau thực hiện tội phạm.
Bị cáo Nguyễn Hải N là người khởi xướng, bàn bạc, thống nhất với bị cáo K, trực tiếp liên hệ mua ma túy, chuyển tiền cho người bán ma túy và mang ma túy lên phòng VIP6 để cùng sử dụng với những người trong phòng.
Bị cáo K sau khi bị cáo N rủ đã bàn bạc, thống nhất ý chí với bị cáo N mua ma túy, trực tiếp cho bị cáo N số điện thoại của người bán ma túy, chuyển khoản số tiền 2.400.000 đồng cho bị cáo N để mua ma túy. Khi bị cáo N mang ma túy lên phòng, bị cáo đã lấy ma túy kẹo pha chế vào cốc cocacola, lấy tờ tiền của chị T1 cuộn ống hút, lấy thẻ của bị cáo Đ xào ma túy ke và trực tiếp đưa ma túy cho một số người trong phòng sử dụng nên bị cáo N và bị cáo K cùng giữ vai trò đầu vụ.
Bị cáo Trần Văn Đ tuy không tham gia bàn bạc từ đầu nhưng khi bị cáo N bảo tý lấy ma túy về chơi bị cáo đã đồng ý, bị cáo đã thống nhất ý chí bảo với bị cáo N và bị cáo K số tiền mua ma túy chia 3, cung cấp thẻ nhựa cho bị cáo K xào ma túy, cùng sử dụng ma túy với các bị cáo và một số người trong phòng VIP6 nên bị cáo là người giúp sức giữ vai trò cuối.
- Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo N, Ký, Đ phạm tội rất nghiêm trọng nên cần xử lý nghiêm áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ vào vai trò của các bị cáo, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo do đều phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo N, Ký, Đ phạm tội không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Các vấn đề khác:
[4.1] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của các bị cáo: quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Hải N khai nhận mua của một người nam giới tên T3 có số điện thoại 0963.848.xxx, sau đó bị cáo N chuyển số tiền 2.400.000 đồng vào số tài khoản 0943681463 tại V1 để trả tiền mua ma tuý cho T3 (bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này). Tiến hành xác minh chủ số thuê bao 0963.848.597 mang tên Đỗ Văn T3, sinh năm 1999, trú tại thôn T, xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; Cơ quan điều tra đã triệu tập T3 đến để làm việc nhưng T3 không có mặt tại địa phương. Xác minh số tài khoản 0943681463 tại V1, chủ tài khoản mang tên Lữ Thị Y sinh năm 2003, trú tại xóm K, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quá trình xác minh xác định chị Y không có mặt tại địa phương. Tiến hành xác minh chủ số thuê bao 0943.681.463 mang tên Nguyễn Hương G sinh năm 1998 trú tại xóm B, thôn L, xã N, huyện H (nay là phường N, thành phố H), tỉnh Ninh Bình, tuy nhiên chị G xác định không lập và không không sử dụng số điện thoại 0943.681.xxx. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Ninh Bình đã tách phần tài liệu liên quan để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
[4.2] Đối với chị Bùi Thị Kiều P1, anh Đàm Quang T2 và chị Đoàn Thị Thanh L3 là những người được các bị cáo nhờ chủ quán gọi đến để rót bia và chọn bài hát, sau khi đến phòng đã có hành vi cùng với các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy. Chị P1, anh T2, chị L3 không có hành vi giúp sức trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà chỉ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thành phố H, tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là đúng quy định của pháp luật.
[4.3] Đối với chị Lò Thị L2 và chị Lường Thị T1 không tham gia sử dụng trái phép chất ma túy cùng với các bị cáo và những người khác nên không vi phạm.
[4.4] Đối với cơ sở kinh doanh quán K2 do anh Nguyễn Đình P làm chủ. Anh P không biết việc các đối tượng đã sử dụng ma túy tại đây. Công an thành phố H chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh P về hành vi “Người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật, người được giao quản lý cơ sở kinh doanh, dịch vụ, để xảy ra hoạt động tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực do mình quản lý".
[4.5] Quá trình điều tra xác định chị Bùi Thị Kiều P1, sinh ngày 01/3/2008 có 01 con là cháu Bùi Kiều M1, sinh ngày 22/9/2023. Vụ việc có dấu hiệu của tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Tuy nhiên chị P1 khai nhận trước thời điểm mang thai đã quan hệ tình dục với nhiều người nhưng không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này, không xác định được địa điểm quan hệ tình dục. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H không đủ căn cứ để điều tra làm rõ.
[4.6] Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu của bị cáo Nguyễn Hải N; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu của bị cáo Nguyễn Văn K đây là các phương tiện các bị cáo sử dụng để liên lạc chuyển tiền mua ma túy nên cần tịch thu, sung Ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu của bị cáo Trần Văn Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Đ;
- Đối với 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn thành hình ống; đây là tiền bị cáo K mượn của chị T1, chị T1 không đề nghị xin lại nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; (Được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2A 075489).
- Đối với 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng màu xanh, 01 bật lửa ga màu xanh; 01 cốc nhựa trong suốt có quai thu giữ tại phòng VIP6 quán karaoke: do tài sản không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy ( Được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2A 075489, túi niêm phong ký hiệu PS1 041381).
- Đối với các vỏ, bao gói niêm phong, túi ni lon, vỏ phong bì niêm phong ban đầudùng để gói ma túy, niêm phong các đồ vật thu giữ, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade Biển kiểm soát 35B2-826.32 thu của anh Đàm Quang T2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu của chị Đoàn Thị Thanh L3; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu của chị Lường Thị T1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi thu của chị Lò Thị L2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu của chị Bùi Thị Kiều P1: Quá trình điều tra xác định đây là các tài sản hợp pháp của anh T2, chị L3, chị Lường Thị T1, chị L2 và chị P1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave S Biển kiểm soát 35B1-640.61 thu của bị cáo Nguyễn Hải N: Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Chí L4 sinh năm 1985, trú tại phố B, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình (là anh trai của N). Khoảng đầu tháng 9/2024 anh L4 cho N mượn chiếc xe trên để đi lại, anh L4 không biết việc ngày 19/9/2024 N sử dụng chiếc xe của mình để đi đến quán karaoke Minh A và sử dụng trái phép chất ma tuý nên không vi phạm. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc xe trên cho anh L4 là đúng quy định pháp luật.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda gắn Biển kiểm soát 35F5-5564; số khung RLHHA0801AY314201, số máy HA08E-1614199 thu của bị cáo Nguyễn Văn K: Quá trình điều tra bị cáo khai nhận mua của một người không quen biết. Kết quả tra cứu xe không thuộc hệ thống tang vật của vụ án nào. Tra cứu thông tin phương tiện theo biển kiểm soát 35F5-5564 thì chủ sở hữu là ông Nguyễn Trọng N3, sinh năm 1962, trú tại phố K, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình; Quá trình làm việc ông N3 xác định vào năm 2002 có sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Amigo Biển kiểm soát 35F5-5564, năm 2022 ông N3 đã bán chiếc xe trên cho một người nam giới không quen biết thu mua phế liệu, không viết giấy tờ mua bán xe. Kết quả tra cứu thông tin phương tiện theo số khung RLHHA0801AY314201, số máy HA08E-1614199 thì chiếc xe mang biển kiểm soát 35Y1-03858, chủ sở hữu là chị Hà Thị N4, sinh năm 1984, trú tại xóm G, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Quá trình làm việc chị N4 xác định trước đây có sở hữu chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 35Y1-03858 nhưng sau đó đã bán chiếc xe trên, do thời gian đã lâu nên chị N4 không nhớ bán cho ai, giấy tờ mua bán xe đã bị mất. Do chưa đủ căn cứ xác định nguồn gốc chiếc xe trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe để tiếp tục điều tra, xác minh theo quy định.
[4.7] Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[5] Từ nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ :
Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn K, Trần Văn Đ phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2- Xử phạt:
+ Bị cáo Nguyễn Hải N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 20/9/2024.
+ Bị cáo Nguyễn Văn K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 20/9/2024.
+ Bị cáo Trần Văn Đ (07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 20/9/2024.
3- Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- Số tiền 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2A 075489;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu bạc lắp sim số 0946707567 thu giữ của bị cáo Nguyễn Hải N;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu đen lắp sim số 0972698822 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn K.
3.2. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 01 thẻ nhựa cứng màu xanh; 01 bật lửa ga màu xanh được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2A 075489;
- 01 cốc nhựa trong suốt, có quai, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 túi niêm phong ký hiệu PS1 041381;
- 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu VIP6 và 01 mảnh giấy mầu trắng; ký hiệu B; được niêm phong trong 01 phong bì.
- 01 vỏ túi nilon mầu trắng, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì.
- 01 vỏ túi niêm phong mã số PS1A 075148.
3.3. Trả lại cho bị cáo Trần Văn Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen lắp sim số 0865199235.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N và Chi cục thi hành án dân sự TP Hoa Lư).
4. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn K, Trần Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Giang Thị Thúy Thu |
Bản án số 87/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 87/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: N 7 năm 6 tháng K 7 năm 6 tháng Đ 7 năm 3 tháng
