|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 87/2025/HS-PT Ngày 30 - 6 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ và ông Ngô Thế Tương.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 112/2025/TLPT-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Lương Đức H và đồng phạm đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025 HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Lương Đức H, sinh ngày 25/10/1982, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn A, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lương Đức Đ và bà Lê Thị P; có vợ là chị Đỗ Thị D và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/11/2024 đến ngày 30/11/2024, được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; triệu tập có mặt.
2. Họ và tên: Phạm Văn R (Phạm Văn D1), sinh ngày 01/10/1963, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phạm Văn T và bà Hoàng Thị N; có vợ là Phạm Thị T1 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Từ tháng 3/1979 đến tháng 11/1983 tham gia nghĩa vụ quân sự. Tra cứu trích lục tiền án, tiền sự thể hiện ngày 12/5/1987, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 15 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa; qua xác minh, không còn lưu trữ bản án tại Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 73/QĐ-XPVPHC ngày 13/3/2008 của Phòng PC14 - Công an tỉnh T, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Chấp hành xong tại Biên lai thu tiền phạt số 0017710 ngày 18/3/2008.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 219/QĐ-XPVPHC ngày 04/10/2013 của Công an huyện V, xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Chấp hành xong tại Biên lai thu tiền phạt số 0006947 ngày 04/10/2013.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/11/2024 đến ngày 30/11/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; triệu tập có mặt.
3. Họ và tên: Đinh Xuân H1, sinh ngày 26/6/1977, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn B, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đinh Văn T2 và bà Phạm Thị L; có vợ là chị Phạm Thị H2 và có 04 con; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 330/QĐ-XPHC ngày 20/8/2012 của Công an huyện V, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Chấp hành xong tại Biên lai thu tiền phạt số 001441 ngày 05/11/2012.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1659/QĐ-UBND ngày 15/3/2019 của Ủy ban nhân dân huyện V, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Chấp hành xong tại Biên lai thu tiền phạt số 0203569 ngày 28/3/2019.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/11/2024 đến ngày 30/11/2024, được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; triệu tập có mặt.
4. Họ và tên: Hoàng Văn T3, sinh ngày 29/8/1973, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hoàng Văn L1 (ông L1 được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba, Huy chương kháng chiến hạng Nhất) và bà Phạm Thị B (ông L1, bà B đều đã chết); có vợ là chị Đỗ Thị D2 và có 02 con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Từ tháng 02/1993 đến tháng 01/1995 tham gia nghĩa vụ quân sự, đóng quân tại Tiểu đoàn 18, Sư đoàn C, Quân đoàn 2.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 219/QĐ-XPVPHC ngày 12/4/2007 của Công an huyện V, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Chấp hành xong tại Biên lai thu tiền phạt số 0015253 ngày 16/4/2007.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 259/QĐ-XPVPHC ngày 04/11/2013 của Công an huyện V, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Chấp hành xong tại Biên lai thu tiền phạt số 0007059 ngày 22/11/2013.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/11/2024 đến ngày 30/11/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; triệu tập có mặt.
Trong vụ án này còn có các bị cáo Phạm Văn K, Phạm Văn H3, Hoàng Thành L2, Đỗ Xuân H4, Phạm Văn Đ1 không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 20/11/2024, các bị cáo Phạm Văn K, Phạm Văn H3, Hoàng Thành L2, Hoàng Văn T3, Phạm Văn R, Đinh Xuân H1 và anh Lý Xuân H5 (H5 không tham gia đánh bạc) đến nhà bị cáo Phạm Văn Đ1 tại thôn N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình, ngồi chơi, uống nước ở sân. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, bị cáo Đ1 đi vào trong nhà, các bị cáo K, H3, L2, T3, R nhìn thấy có 01 bộ bài tú lơ khơ để trên cửa sổ phòng khách nên đã rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Ba cây” và thống nhất mỗi người đưa cho bị cáo Đ1 100.000 đồng để bị cáo Đ1 phục vụ thuốc, nước trong quá trình đánh bạc. Khi bị cáo Đ1 ra sân, bị cáo K đưa cho bị cáo Đ1 500.000 đồng và nói “Bọn tôi chơi ở đây nhé, đây gọi là tiền thuốc, nước cho chúng tôi”. Bị cáo Đ1 cầm tiền và không nói gì. Bị cáo K cầm bộ bài tú lơ khơ cùng các bị cáo L2, H3, T3, R đi vào trong gian bếp nhà bị cáo Đ1, thấy có chiếu nhựa trải sẵn trước đó nên đã cùng ngồi xuống và thống nhất luật chơi như sau: Trước khi vào ván bài, mỗi người chơi phải đặt cược số tiền thấp nhất là 50.000 đồng, cao hơn thì tùy vào từng người chơi. Sau đó, người cầm chương ván bài đầu tiên sẽ sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân loại bỏ hết các quân bài 10, J, Q, K ra, chỉ sử dụng các quân bài A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 rồi trộn đều lên chia đều cho mỗi người chơi 03 (ba) quân bài. Sau khi chia bài xong, người chơi cộng điểm 03 quân bài của mình theo thang 10 điểm để đọ bài với người cầm chương, người có số điểm 03 quân bài cao hơn so với điểm của người cầm chương thì sẽ thắng và được nhận số tiền tương ứng số tiền mình đã đặt từ người cầm chương. Nếu người chơi thua điểm so với bài người cầm chương thì sẽ phải trả số tiền tương ứng với số tiền mình đã đặt. Nếu bằng điểm nhau thì sẽ đọ chất trong bài theo thứ tự từ lớn đến bé là “rô>cơ>bích>tép” để biết ai là người thắng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì có các bị cáo Lương Đức H và Đỗ Xuân H4 đến tham gia chơi cùng. Đến 22 giờ cùng ngày, bị cáo Đinh Xuân H1 đang ngồi trên ghế cũng vào xin tham gia đánh bạc. Cứ như vậy, các bị cáo K, H3, L2, R, T3, H, H4, H1 đánh bạc đến khoảng 22 giờ 30 phút thì bị cáo K thua hết tiền, nên đi về trước. Các bị cáo H3, L2, R, T3, H, H4, H1 tiếp tục chơi đến khoảng 22 giờ 40 phút thì bị lực lượng Công an huyện V, phát hiện, bắt quả tang. T4 trên chiếu bạc số tiền là 9.400.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ; 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng. Thu giữ số tiền 500.000 đồng của bị cáo Đ1 giao nộp.
Số tiền các bị cáo khai sử dụng vào việc đánh bạc cụ thể như sau:
Bị cáo Lương Đức H mang theo số tiền 2.000.000 đồng, sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh, H thắng được 2.300.000 đồng. Khi bị bắt giữ, đã bỏ toàn bộ số tiền 4.300.000 đồng xuống chiếu và bị quản lý.
Bị cáo Phạm Văn K mang theo số tiền 1.750.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng để trả tiền thuốc, nước, còn lại 1.650.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc, trong quá trình đánh, K bị thua hết. Khi bị bắt quả tang, đã bỏ toàn bộ số tiền xuống chiếu và bị quản lý.
Bị cáo Phạm Văn R mang theo số tiền 1.700.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng để trả tiền hồ, thuốc, nước, còn lại 1.600.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc, trong quá trình đánh không rõ thắng thua, khi bị bắt giữ đã bỏ toàn bộ số tiền xuống chiếu và bị quản lý.
Bị cáo Hoàng Thành L2 mang theo số tiền 1.100.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng để trả tiền thuốc, nước, còn lại 1.000.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc, trong quá trình đánh không rõ thắng thua, khi bị bắt giữ đã bỏ toàn bộ số tiền xuống chiếu và bị quản lý.
Bị cáo Đinh Xuân H1 mang theo số tiền 1.000.000 đồng, sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh, H1 bị thua 800.000 đồng, còn 200.000 đồng. Khi bị bắt giữ đã bỏ toàn bộ số tiền xuống chiếu và bị quản lý.
Bị cáo Hoàng Văn T3 mang theo số tiền 900.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng để trả tiền thuốc, nước, còn lại 800.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc, trong quá trình đánh, T3 bị thua 700.000 đồng, còn lại 100.000 đồng. Khi bị bắt giữ đã bỏ toàn bộ số tiền xuống chiếu và bị quản lý.
Bị cáo Phạm Văn H3 mang theo số tiền 850.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng để trả tiền thuốc, nước, còn lại 750.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc, trong quá trình đánh không rõ thắng thua, khi bị bắt giữ đã bỏ toàn bộ số tiền xuống chiếu và bị quản lý.
Bị cáo Đỗ Xuân H4 mang theo số tiền 600.000 đồng, sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh, không rõ thắng thua, khi bị bắt giữ đã bỏ toàn bộ số tiền xuống chiếu và bị quản lý. Ngoài ra không bị quản lý gì khác.
Bị cáo Phạm Văn Đ1 đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình và được hưởng lợi số tiền 500.000 đồng. Khi bị bắt giữ, đã tự nguyện giao nộp và bị quản lý.
Ngoài ra, các bị cáo không bị quản lý gì khác.
Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 16/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn K, Phạm Văn R, Đinh Xuân H1, Hoàng Văn T3, Hoàng Thành L2, Đỗ Xuân H4, Phạm Văn H3 và Phạm Văn Đ1 phạm tội "Đánh bạc".
- Về hình phạt:
- Đối với bị cáo Phạm Văn K: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn K 10 (Mười) triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Đối với bị cáo Lương Đức H : Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ 09 (chín) ngày tạm giữ. Phạt bổ sung bị cáo Lương Đức H 10 (Mười) triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Đối với bị cáo Phạm Văn R (Phạm Văn D1): Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ 09 (chín) ngày tạm giữ. Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn R 10 (Mười) triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Đối với bị cáo Đinh Xuân H1: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38, khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ 09 (chín) ngày tạm giữ. Phạt bổ sung bị cáo Đinh Xuân H1 07 (Bẩy) triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Đối với bị cáo Hoàng Văn T3: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38, khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ 09 (chín) ngày tạm giữ. Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Văn T3 07 (Bẩy) triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Đối với bị cáo Hoàng Thành L2: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38, Điều 65; khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/4/2025). Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Thành L2 05 (Năm) triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Đối với bị cáo Đỗ Xuân H4: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38, Điều 65; khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/4/2025). Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Xuân H4 05 (Năm) triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Đối với bị cáo Phạm Văn H3: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38, Điều 65; khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/4/2025). Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn H3 05 (Năm) triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
Giao các bị cáo Hoàng Thành L2, Đỗ Xuân H4, Phạm Văn H3 cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
2.9. Đối với bị cáo Phạm Văn Đ1: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ1 25 (Hai mươi lăm) triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22 tháng 4 năm 2025, các bị cáo Đinh Xuân H1 và Hoàng Văn T3 kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 16/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Ngày 29 tháng 4 năm 2025, các bị cáo Lương Đức H và Phạm Văn R kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 16/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn R, Đinh Xuân H1 và Hoàng Văn T3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã tuyên và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét:
Các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn R, Đinh Xuân H1 và Hoàng Văn T3 đều trình bày các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định. Tuy nhiên, bị cáo H trình bày bị cáo có trình độ học vấn thấp, không biết chữ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo, bị cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ này; bị cáo R trình bày bị cáo đã chủ động nộp tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự theo bản án sơ thẩm đã tuyên; Bị cáo Đinh Xuân H1 trình bày trình bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định, ngoài ra, bị cáo đã chủ động nộp tiền phạt bổ sung và tiền án phí theo bản án sơ thẩm đã tuyên, bị cáo đang nuôi mẹ già gần 80 tuổi bị tàn tật nên bị cáo R, bị cáo H1, bị cáo T3 đều đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới này và xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Kiểm sát viên, sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo, xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của các bị cáo theo đó đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lương Đức H, Đinh Xuân H1, Hoàng Văn T3. Sửa phần quyết định hình phạt đối với bị cáo R của Bản án sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 16/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư theo hướng giảm hình phạt; sửa phần quyết định hình phạt đối với bị cáo H, bị cáo H1, bị cáo Thảnh của Bản án sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 16/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng chuyển biện pháp chấp hành hình phạt, cụ thể:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn R, Đinh Xuân H1 và Hoàng Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt:
+ Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn R 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, bị cáo được khấu được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 21/11/2024 đến ngày 30/11/2024.
+ Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Đức H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 30/6/2025.
+ Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; khoản 3 Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Đinh Xuân H1 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 30/6/2025.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T3 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 30/6/2025.
Các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn R, Đinh Xuân H1, Hoàng Văn T3 xác định các bị cáo có hành vi đánh bạc như bản án sơ thẩm đã tuyên, các bị cáo không trình bày lời bào chữa về hành vi phạm tội của mình và không tranh luận về quan điểm của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.
Các bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn R, Đinh Xuân H1, Hoàng Văn T3 được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận để xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
- [2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn R, Đinh Xuân H1, Hoàng Văn T3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với bản án sơ thẩm đã nhận định. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng từ 20 giờ 00 phút đến 22 giờ 40 phút ngày 20/11/2024, tại phòng bếp tầng 1 nhà ở của bị cáo Phạm Văn Đ1, tại thôn N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình, bị cáo Phạm Văn Đ1 đã đồng ý để cho các bị cáo: Lương Đức H, Phạm Văn K, Phạm Văn R, Hoàng Thành L2, Đinh Xuân H1, Hoàng Văn T3, Phạm Văn H3 và Đỗ Xuân H4 đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “Ba cây”, bằng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, đã bị lực lượng Công an huyện V phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 9.900.000 đồng, thu giữ, quản lý 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng. Bị cáo Phạm Văn Đ1 tuy không trực tiếp đánh bạc nhưng đồng ý cho các bị cáo đánh bạc tại nhà ở của mình và có được hưởng lợi ích vật chất số tiền 500.000 đồng nên bị cáo Đ1 đồng phạm giúp sức về hành vi đánh bạc. Như vậy, hành vi của các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn K, Phạm Văn R, Hoàng Thành L2, Đinh Xuân H1, Hoàng Văn T3, Phạm Văn H3, Đỗ Xuân H4 và Phạm Văn Đông Đ2 yếu tố cấu thành tội Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Điều 321 - Tội đánh bạc quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến dưới 03 năm. 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. ”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn K, Phạm Văn R, Hoàng Thành L2, Đinh Xuân H1, Hoàng Văn T3, Phạm Văn H3 và Đỗ Xuân H4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an trong xã hội, tạo lên dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, là mầm mống làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác đang bị xã hội lên án. Tuy nhiên, xuất phát từ nhu cầu thắng thua trong trò chơi bằng lợi ích vật chất nên các bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn cờ bạc, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân nên cần phải xử lý nghiêm minh đối với tội phạm này để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
- [4] Tòa án cấp sơ thẩm nhận định đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không cắt cử người trông coi, cảnh giới, không có người làm tín dụng và không có người thu tiền hồ mà cùng thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thực hành. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo trên cơ sở đó quyết định mức hình phạt như sau: Bị cáo H 01 năm 06 tháng tù, bị cáo R 01 năm 04 tháng tù, bị cáo H1 01 năm 02 tháng tù và bị cáo T3 01 năm 02 tháng tù thì thấy là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra và đúng pháp luật.
- [5] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn R, Đinh Xuân H1 và Hoàng Văn T3 thì thấy:
- [5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H, bị cáo R, bị cáo H1, bị cáo T3 không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- [5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo H, bị cáo H1, bị cáo T3; bị cáo R được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ là có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm còn áp dụng cho bị bị cáo T3 được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, có bố đẻ được nhà nước tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba, Huy chương kháng chiến hạng Nhất theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/5/2025 bị cáo R đã chủ động nộp đủ 10 triệu đồng tiền phạt bổ sung và 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo bản án sơ thẩm đã tuyên, cáo H1 đã chủ động nộp đủ 07 triệu đồng tiền phạt bổ sung và nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo bản án sơ thẩm đã tuyên; ngày 08/5/2025 bị cáo T3 đã chủ động nộp đủ 07 triệu đồng tiền phạt bổ sung và nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo bản án sơ thẩm đã tuyên, nên đây là tình tiết giảm nhẹ mới được Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng đối với các bị cáo. Bị cáo H có trình độ học vấn rất thấp 01/12, không biết chữ nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi xét xử Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo.
- [5.3] Như vậy: Bị cáo H có 03 tình tiết giảm nhẹ (02 tình tiết quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự), bị cáo H1 có 03 tình tiết giảm nhẹ (02 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự), bị cáo T3 có 05 tình tiết giảm nhẹ (02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Tuy, bị cáo H1 và bị cáo T3 đều có 02 lần bị xử phạt hành chính nhưng đã được xóa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo H, bị cáo H1 và bị cáo T3 đều có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo có nhiều tình tiết tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc các bị cáo cách ly ra ngoài xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng cải tạo, rèn luyện để trở thành công dân tốt. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo H, bị cáo H1 và bị cáo T3, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt tù đối với các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm quyết định đối với các bị cáo. Bị cáo R có 03 tình tiết giảm nhẹ (01 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 và 02 tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự); tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu đã 01 lần bị Tòa án xét xử năm 1986 và 2 lần bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo mà chỉ chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo R, theo đó cần sửa một phần quyết định hình phạt của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo R để bị cáo yên tâm cải tạo. Bị cáo R được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 21/11/2024 đến ngày 30/11/2024.
- [6] Các bị cáo khác và các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [7] Về án phí: Các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn R, Đinh Xuân H1 và Hoàng Văn T3 có kháng cáo, được chấp nhận nên không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Lương Đức H, Đinh Xuân H1, Hoàng Văn T3 là xin được hưởng án treo; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn R là xin được giảm hình phạt. Sửa phần quyết định hình phạt đối với bị cáo H, bị cáo R, bị cáo H1, bị cáo Thảnh của Bản án sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 16/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn R, Đinh Xuân H1 và Hoàng Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Văn R 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, bị cáo được khấu được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 21/11/2024 đến ngày 30/11/2024.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lương Đức H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 30/6/2025.
Xử phạt bị cáo Đinh Xuân H1 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 30/6/2025.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T3 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 30/6/2025.
- Giao các bị cáo Lương Đức H, Đinh Xuân H1, Hoàng Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm d, h Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Lương Đức H, Phạm Văn R, Đinh Xuân H1 và Hoàng Văn T3 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Các bị cáo khác và các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 30 tháng 6 năm 2025.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND, VKSND, THADS huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ, HCTP./. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hân |
Bản án số 87/2025/HS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 87/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Đức H và đồng phạm
