|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2025/HS-PT Ngày: 27- 6 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Nguyễn Công Hoàn |
Các Thẩm phán: |
Bà Lê Thị Vân |
Bà Nguyễn Thị Bích Thảo |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 92/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2025/HS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm: 1987 tại: Vĩnh Long; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: 2 tổ C, khu phố C, phường T, Quận A, Thành Phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn P và bà Nguyễn Thị L; chồng: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1981 (Đã ly hôn), con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm: 2009, nhỏ nhất sinh năm: 2019.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có bị hại và người liên quan nhưng không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị; không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2019, Nguyễn Thị Mỹ D từ thành phố Hồ Chí Minh lên thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng làm thuê và sinh sống. Vào tháng 3/2023, D được anh Đinh Văn H1 là đại diện quán ăn tên “Tiệm nướng Thương Thương” tại địa chỉ: C Đ, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng nhận vào quán làm việc. Nhiệm vụ của D tại quán là thu tiền thanh toán của khách, quản lý và giữ tiền, đặt hàng, đối chiếu công nợ, kiểm tra phiếu giao hàng và trả tiền mặt đối với các mặt hàng thanh toán bằng tiền mặt, lập báo cáo thu chi nhập lên google sheet excel, đồng thời gửi báo cáo cho H1 là đại diện quán vào ngày 04, 05 hàng tháng, trả tiền lương cho nhân viên của quán, cho nhân viên ứng tiền lương. Đối với mặt hàng kim chi quán lấy từ anh Nguyễn Anh S, sinh năm: 1994, nơi thường trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, thì mặt hàng này thanh toán bằng tiền mặt và có hoá đơn chi tiết cụ thể. Trong thời gian làm việc tại quán từ ngày 12/5/2023 đến ngày 26/9/2023, D đã lợi dụng việc được giao quản lý tiền doanh thu của quán nên đã kê khống số tiền thanh toán mặt hàng kim chi cao hơn thực tế vào bảng thu chi tháng để chủ quán không biết và chiếm đoạt số tiền chênh lệch.
Đến ngày 29/9/2023, Đinh Văn H1 phát hiện sự việc này nên đã làm việc với Nguyễn Thị Mỹ D thì D thừa nhận đã chiếm đoạt tiền của quán với hình thức như trên. Sau đó, D tự ý nghỉ việc và bỏ đi khỏi địa bàn thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Quá trình điều tra, đã xác minh, làm việc với Nguyễn Thị Mỹ D và tiến hành đối chiếu Hoá đơn mặt hàng kim chi, Bảng thu chi các tháng do D lập, kết quả xác định từ ngày 12/5/2023 đến ngày 26/9/2023, D đã kê khống để chiếm đoạt tiền tất cả các lần thanh toán kim chi cụ thể như sau:
- - Ngày 12/5/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 5.084.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.542.000 đồng, số tiền chênh lệch là 2.542.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 2.542.000 đồng.
- - Ngày 15/5/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.472.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.046.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.426.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.426.000 đồng.
- - Ngày 20/5/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 4.030.000 đồng, số tiền thực tế phải chỉ trả là 2.790.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.240.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.240.000 đồng.
- - Ngày 25/5/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.100.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.108.000 đồng, số tiền chênh lệch là 992.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 992.000 đồng.
- - Ngày 28/5/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.968.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.418.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.550.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.550.000 đồng.
- - Ngày 31/5/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.224.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.046.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.178.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.178.000 đồng.
- - Ngày 03/6/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 2.728.000 đồng, số tiền thực tế phải chỉ trả là 1.798.000 đồng, số tiền chênh lệch là 930.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 930.000 đồng.
- - Ngày 06/6/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.162.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.170.000 đồng, số tiền chênh lệch là 992.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 992.000 đồng.
- - Ngày 09/6/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 4.464.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 3.162.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.302.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.302.000 đồng.
- - Ngày 12/6/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 5.270.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 3.596.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.674.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.674.000 đồng.
- - Ngày 15/6/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.596.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.418.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.178.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.178.000 đồng.
- - Ngày 18/6/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 4.960.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 3.410.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.550.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.550.000 đồng.
- - Ngày 21/6/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.782.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.418.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.364.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.364.000 đồng.
- - Ngày 24/6/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 5.580.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 3.720.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.860.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.860.000 đồng.
- - Ngày 27/6/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.968.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 1.984.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.984.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.984.000 đồng.
- - Ngày 04/8/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 4.526.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 1.984.000 đồng, số tiền chênh lệch là 2.542.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 2.542.000 đồng.
- - Ngày 08/8/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 5.580.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.790.000 đồng, số tiền chênh lệch là 2.790.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 2.790.000 đồng.
- - Ngày 11/8/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 5.146.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.170.000 đồng, số tiền chênh lệch là 2.976.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 2.976.000 đồng.
- - Ngày 14/8/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 4.960.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.290.000 đồng, số tiền chênh lệch là 2.670.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 2.670.000 đồng.
- - Ngày 17/8/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.720.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 1.612.000 đồng, số tiền chênh lệch là 2.108.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 2.108.000 đồng.
- - Ngày 20/8/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 4.216.000 đồng, số tiền thực tế phải chỉ trả là 2.100.000 đồng, số tiền chênh lệch là 2.116.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 2.116.000 đồng.
- - Ngày 23/8/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.100.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 1.364.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.736.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.736.000 đồng.
- - Ngày 26/8/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 4.340.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.170.000 đồng, số tiền chênh lệch là 2.170.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 2.170.000 đồng.
- - Ngày 29/8/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.410.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 1.426.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.984.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.984.000 đồng.
- - Ngày 03/9/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 7.006.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 3.410.000 đồng, số tiền chênh lệch là 3.596.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 3.596.000 đồng.
- - Ngày 09/9/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 6.510.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 3.100.000 đồng, số tiền chênh lệch là 3.410.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 3.410.000 đồng.
- - Ngày 12/9/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.100.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 1.302.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.798.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.798.000 đồng.
- - Ngày 15/9/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.410.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 1.550.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.860.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.860.000 đồng.
- - Ngày 20/9/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 5.862.000 đồng, vào ngày này quán không thanh toán tiền kim chi đã nhập, số tiền này D tự kê khống. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 5.862.000 đồng.
- - Ngày 23/9/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 5.766.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 2.600.000 đồng, số tiền chênh lệch là 3.166.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 3.166.000 đồng.
- - Ngày 26/9/2023: Số tiền chi trong bảng thu chi là 3.472.000 đồng, số tiền thực tế phải chi trả là 1.488.000 đồng, số tiền chênh lệch là 1.984.000 đồng. Như vậy, lần này D chiếm đoạt được số tiền là 1.984.000 đồng.
Đối với hoá đơn chi trả mặt hàng kim chi tháng 7/2023, quán ăn tên “Tiệm nướng Thương Thương” tại địa chỉ: C Đ, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và anh Nguyễn Anh S không lưu giữ dẫn đến không có căn cứ xác định số tiền Duyên đã chiếm đoạt.
Như vậy, tính từ ngày 12/5/2023 đến ngày 26/9/2023, Nguyễn Thị Mỹ D đã thực hiện hành vi kê khống để chiếm đoạt tiền tất cả 31 lần thanh toán tiền hoá đơn mặt hàng kim chi, trong đó có 01 lần vào ngày 20/9/2023 với số tiền 5.862.000 đồng, 30 lần với số tiền dưới 4.000.000 đồng, tổng số tiền Duyên đã chiếm đoạt được là 64.530.000 đồng (sáu mươi bốn triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng - BL: 163-198).
* Đồ vật, tài liệu tạm giữ:
- - 38 ảnh phiếu bán hàng của Nhà phân phối  - Nguyên - Anh có số ngày lần lượt như sau: 02271-05/5/2023; 01088-13/5/2023; 02568-17/5/2023; 02042-19/5/2023; 02508-21/5/2023; 01089-22/5/2023; 02536-25/5/2023; 02517-25/5/2023; 02542-26/5/2023; 02449-28/5/2023; 01726-31/5/2023; 01750-03/6/2023; 02692-08/6/2023; 02829-12/6/2023; 02828-6/13/2023; 02835-15/6/2023; 02923-20/6/2023; 02939-22/6/2023; 02992-30/6/2023; 02813-không ghi ngày; 00563-01/8/2023; 00335-03/8/2023; 00229- 08/8/2023; 00354-09/8/2023; 00823-14/8/2023; 00454-23/8/2023; 00866-25/8/2023; 09/02/2023; 00766-03/9/2023; 00478-28/8/2023; 00781-06/9/2023; 00889-30/8/2023; 00726-09/9/2023; 00764- 00924-11/9/2023; 00380-19/9/2023; 00950-không rõ ngày; 01020-20/9/2023; 01075-23/9/2023.
- - 14 Hóa đơn bán lẻ của Huấn N (các ngày 03/6/2023, 06/6/2023, 07/6/2023, 09/6/2023, 11/6/2023, 16/6/2023, 18/6/2023, 23/6/2023, 08/9/2023, 09/9/2023, 12/9/2023, 14/9/2023).
- - 01 tờ giấy trắng ghi nội dung “19/6/2023 lấy Huấn Ngọc 218 nắp chai = 436.000".
- Ngày 16/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ ra Quyết định xử lý vật chứng số 217/QĐ-ĐTTH trả các tài liệu trên cho ông Đinh Văn H1 (BL: 614, 615).
- - 30 Hóa đơn bán lẻ mặt hàng Kim chi (từ ngày 01/5 ngày 22/5, 24/5-31/5).
- - 26 Hóa đơn bán lẻ mặt hàng Kim chi (từ ngày 01/6 ngày 26/6).
- - 01 Hóa đơn bán lẻ mặt hàng Kim chi (không ghi ngày).
- - 29 Hóa đơn bán lẻ mặt hàng Kim chi (từ ngày 01/8 ngày 29/8).
- - 23 Hóa đơn bán lẻ mặt hàng Kim chi (từ ngày 01/9 ngày 15/9, 19/9-26/9).
- - 01 sổ hoá đơn đã ghi 26 tờ, mặt hàng kim chi các ngày cụ thể: 01- 05/9/2023, 07-10/9/2023, 12-15/9/2023, 19-30/9/2023 và 01 tờ không ghi ngày.
Tại Cáo trạng số: 44/CT-VKSBL ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2025/HS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại không kháng cáo.
Ngày 11-4-2025, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo, không thay đổi bổ sung gì thêm
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xử phạt bị cáo bằng biện pháp phạt tù với mức án 24 tháng ở đầu khung hình phạt là tương xứng. Bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình thêm tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tại giai đoạn sơ thẩm là hợp pháp.
[2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[4] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đề cập, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm; phù hợp lời khai người liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:
Nguyễn Thị Mỹ D là nhân viên không có hợp đồng của quán ăn tên “Tiệm nướng Thương Thương” tại địa chỉ: C Đ, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nhiệm vụ được phân công là thu tiền thanh toán của khách, quản lý và giữ tiền, đặt hàng, đối chiếu công nợ, kiểm tra phiếu giao hàng và trả tiền mặt đối với các mặt hàng thanh toán bằng tiền mặt, lập báo cáo thu chi nhập lên google sheet excel, đồng thời gửi báo cáo cho H1 là đại diện quán vào ngày 04, 05 hàng tháng, trả tiền lương cho nhân viên của quán, cho nhân viên ứng tiền lương. Trong thời gian làm việc tại quán từ ngày 12/5/2023 đến ngày 26/9/2023, D đã lợi dụng việc được giao quản lý tiền doanh thu của quán, nên đã kê khống số tiền thanh toán mặt hàng Kim chi cao hơn thực tế vào Bảng thu chi tháng để chủ quán không biết nhằm chiếm đoạt số tiền chênh lệch, với tổng số tiền chiếm đoạt là 64.530.000 đồng.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, nhưng bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng, sở hở của chủ sử dụng trong công tác quản lý để chiếm đoạt số tiền 64.530.000 đồng như hành vi thực hiện đã nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, do số tiền chiếm đoạt trên 50.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo thuộc trường hợp định khung tăng nặng theo quy định tại tại điểm c, khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự là đúng khung hình phạt, đúng người, đúng tội và không oan sai.
[5] Về hình phạt và kháng cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu trong hoạt động kinh doanh, buôn bán. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ gồm: thành khẩn khai báo, khắc phục bồi thường số tiền 44.530.000 đồng nên quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đầy đủ. Mức án 24 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là ở mức khởi điểm của khung hình phạt, tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội bị cáo gây ra.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng giai đoạn phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ mới. Đến hiện tại chưa khắc phục xong hậu quả đối với bị hại, do đó không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên hình phạt tù như án sơ thẩm như quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa phúc thẩm.
[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Tuyên xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Hoàn |
Bản án số 87/2025/HS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 87/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Mỹ D "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"
