Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2025/HS-PT

Ngày 27 - 06 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú

Các Thẩm phán: 1. Bà Trần Thị Hà

2. Bà Phạm Thị Chuyền

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 6 và 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/TLPT-HS ngày 03/3/2025 đối với bị cáo Trần Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2025/HS-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Họ và tên bị cáo kháng cáo: Trần Văn T, sinh năm 1997; tên gọi khác: không; nơi đăng ký ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn P, xã T, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1971; vợ: Hà Thị T1, sinh năm 1995; bị cáo có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2021 đến nay. Hiện đang giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo T:

  • - Bà Ong Thị T2 - Luật sư, bà Ngô Thị T3 - Luật sư, Văn phòng Luật sư Vũ Anh H, thuộc đoàn luật sư tỉnh B
  • Địa chỉ: Số D, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Luật sư T2 có mặt, luật sư T3 vắng mặt)
  • - Ông Phạm Thế V1 - Luật sư, ông Trần Xuân K - Luật sư, bà Nguyễn Thị T4 - Luật sư, Văn phòng L1 thuộc đoàn luật sư Hà Nội
  • Địa chỉ: Số C, M, quận C, thành phố Hà Nội. (Có mặt, Luật sư V1 vắng mặt tại phiên tòa ngày 27/6/2025)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Tuấn A, sinh năm 1997 (Có mặt)
  2. Địa chỉ: tổ dân phố C, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  3. Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam H2, Cục C3 - Bộ Công an
  4. Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1993 (Có mặt)
  5. Địa chỉ: thôn B, xã Y, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  6. Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam N1, Cục C3 - Bộ C4
  7. Anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 1995 (Có mặt)
  8. Địa chỉ: thôn B, xã Y, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  9. Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam P2, Cục C3 - Bộ Công an
  10. Anh Nguyễn Trí Q, sinh năm 1997 (Có mặt)
  11. Địa chỉ: thôn B, xã Y, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  12. Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam P2, Cục C3 - Bộ Công an
  13. Chị Phùng Mùi C, sinh năm 2000(Vắng mặt)
  14. Địa chỉ: Xóm L, xã P, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  15. Chị Hoàng Mùi C1, sinh năm 2004 (Vắng mặt)
  16. Địa chỉ: Xóm Nặm Dần, xã Ca Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
  17. Chị Giàng Thị P, sinh năm 2002 (Vắng mặt)
  18. Địa chỉ: thôn Tu Thượng, xã Nậm Né, huyện Văn Bản, tỉnh Lào Cai
  19. Chị Luyện Thị T7, sinh năm 1987(Có mặt)
  20. Địa chỉ: tổ dân phố Đông, phường Cảnh Thụy, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  21. Anh Hoàng Hữu D, sinh năm 1988 (Có mặt)
  22. Địa chỉ: tổ dân phố B, phường C, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  23. Anh Hoàng Tiến M, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
  24. Địa chỉ: số B, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 01 giờ 30 phút ngày 16/10/2021, tại phòng tầng 4 cơ sở karaoke P3 thuộc thôn Đ, xã C, huyện Y (nay là phường C, thành phố B), tỉnh Bắc Giang do Trần Văn T, sinh năm 1997, ở thôn P, xã T, huyện Y (nay là thành phố B) làm quản lý. Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội - Công an tỉnh B phối hợp cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y (nay là thành phố B) bắt quả tang: Nguyễn Văn T5, sinh năm 1993; Nguyễn Văn T6, sinh năm 1995; Nguyễn Trí Q, sinh năm 1997 đều ở cùng thôn B, xã Y, thành phố B); Trần Tuấn A, sinh 1997 ở Tiểu khu C, Thị Trấn N, Y (nay là phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang; Phùng Mùi C, sinh năm 2002, ở xóm L, xã P, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Hoàng Mùi C1, sinh năm 2004, ở xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Giàng Thị P, sinh năm 2002, ở thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ:

  • - Thu giữ trên mặt đĩa sứ màu trắng chất tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý) sau đó cho vào túi nilon màu trắng có rãnh khóa viền kẻ màu đỏ, niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1".
  • - Thu giữ trên nền nhà chất tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý) sau đó cho vào túi nilon màu trắng có rãnh khóa viền kẻ màu đỏ, niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT2”.
  • - 01 đĩa sứ màu trắng, hình tròn có đường kính 23 cm; 01 ống hút bằng tờ tiền pholime mệnh giá 10.000 đồng được quấn ngoài bằng vỏ đầu lọc thuốc lá; 01 loa xách tay màu đen nhãn hiệu harman/kardon; 01 đèn chiếu màu trắng và 01 đèn laze màu đen; 01 thẻ nhân viên tư vấn bảo hiểm màu trắng có tên Trần Văn K1.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh của Nguyễn Văn T5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng đã qua sử dụng của Hoàng M1 Chuống; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng có, ốp ngoài màu bạc của Phùng Mùi Coi; 01 điện thoại di động Iphone Xs max, màu hồngcủa Giàng Thị P; 01 điện thoại di động Iphone màu hồng có ốp màu xanh đậm của Nguyễn Văn T6; 01 điện thoại Iphone màu vàng - đồng của Trần Tuấn A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng của Nguyễn Trí Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1102 màu đenvà 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen của Trần Văn T.

Tiến hành test nhanh chất ma túy qua nước tiểu của Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Trí Q, Phùng Mùi C, Hoàng Mùi C đều cho kết quả dương tính với chất ma túy.

Đối với Trần Tuấn A và Giàng Thị P đều khai có cùng các đối tượng T6, T5, Q, C, C1 sử dụng ma túy; Tuấn A khai, ngay sau khi sử dụng Tuấn A đã "xì" ra nên test nhanh ma túy cho kết quả âm tính, còn Giàng Thị P khai khi bị bắt quả tang thì vừa sử dụng ma túy xong chưa đủ thời gian bài tiết, nên khi test nhanh ma túy cho kết quả âm tính.

Cùng ngày 16/10/2021, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y (nay là thành phố B) ra quyết định trưng cầu giám định gửi đến Phòng K2 Công an tỉnh B để giám định khối lượng, các chất thu giữ khi bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số số 1658/KL- KTHS, ngày 20 tháng 10 năm 2021 của phòng K2 - Công an tỉnh B kết luận:

“Trong (01) một phong bì niêm phong gửi giám định có ký hiệu “QT1” đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 0,024 gam, loại Ketamin.

Trong (01) một phong bì niêm phong gửi giám định có ký hiệu “QT2” đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 0,101 gam, loại Ketamin."

Tại cơ quan điều tra, Trần Văn T; Trần Tuấn A; Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn T6 và Nguyễn Trí Q đều khai nhận:

Cơ sở P3 thuộc thôn Đ, xã C, huyện Y (nay là phường C, thành phố B), tỉnh Bắc Giang là của Luyện Thị T7, sinh năm 1987, ở thôn Đ, xã C, huyện Y (nay là phường C, thành phố B), tỉnh Bắc Giang thuê để kinh doanh. Do có quen biết với Trần Văn T, sinh năm 1997, ở thôn P, xã T, huyện Y (thành phố B) từ trước, nên chị T7 có thuê T làm làm quản lý, phục vụ khách khi đến thuê phòng hát và trông coi quán từ khoảng đầu tháng 10/2021.

Buổi tối ngày 15/10/2021, Nguyễn Văn T6 và Nguyễn Trí Q đi hát karaoke cùng một số bạn tại quán R ở tổ dân phố C, thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B). Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đang hát thì T6 và Q cùng rủ nhau mua ma túy để thuê phòng sử dụng (thường gọi là "bay sập"). Sau khi thống nhất xong, T6 rủ Phùng Mùi C, sinh năm 2002, ở xóm L, xã P, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Q rủ Hoàng Mùi C1, sinh năm 2004, ở xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng là 02 nhân viên nữ khi đó đang phục vụ cho nhóm của T6 và Q tại quán R đi cùng để sử dụng ma túy thì C và C1 đồng ý. Sau đó Q nhắn tin qua ứng dụng facebook messeger cho Nguyễn Văn T5 ở cùng thôn để rủ T5 cùng tham gia sử dụng ma túy và bảo T5 thuê phòng và tìm mua ma túy và đến đón nhóm của Q để cùng nhau đi sử dụng ma tuý thì T5 đồng ý. Khoảng 20 phút sau, T5 đi xe ô tô taxi đến thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B) đón T6, Q, C, C1. Sau khi gặp nhau, T5 điện thoại cho Trần Tuấn A, sinh năm 1997, ở tổ dân phố C, thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), là người quen biết từ trước với T5 bảo Tuấn A đặt phòng, tìm mua ma tuý tổng hợp (02 viên loại "kẹo") và 01 chỉ "ke" loại ma tuý ketamine và gọi 01 nhân viên nữ đến phục vụ T5 sử dụng ma túy thì Tuấn A đồng ý. Sau đó Tuấn A đặt phòng tại Cơ sở P3 thuộc thôn Đ, xã C, huyện Y (nay là phường C, thành phố B), tỉnh Bắc Giang và bảo T5 thanh toán tiền mua ma túy là 2.300.000đ cho Tuấn A qua tài khoản 0355413567 ngân hàng M2 tên Giáp Thị X, thì T5 bảo Nguyễn Trí Q chuyển tiền cho Tuấn A qua tài khoản trên, thì được Q đồng ý và chuyển 2.300.000 đồng vào số tài khoản 0355413567 ngân hàng M2 tên Giáp Thị X để trả tiền mua ma túy.

Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, T5, T6, Q, C, C1 đi đến quán K3 ở thôn Đ, xã C, huyện Y (nay là phường C, thành phố B) để thuê phòng "bay sập". Khi đến quán thì gặp Trần Văn T, do đã được đặt phòng trước đó, nên T dẫn nhóm của T5 đi lên phòng hát tầng 2 của quán, thì nhóm của T5 yêu cầu đổi phòng để "bay sập". Biết nhóm của T5 đến thuê phòng để sử dụng ma túy, T không ngăn cản, khi đây là cơ sở đang do Thăng quản lý mà đưa cả nhóm lên phòng nghỉ tầng 4 của quán để các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý. Khoảng 15 phút sau thì Tuấn A mang ma túy và đưa 01 nhân viên nữ tên H1 (không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ) đến quán, lên phòng D. Khi vào phòng, Tuấn A bỏ 02 viên ma tuý tổng hợp và 01 chỉ Ketamin ra bàn, T5 lấy 02 viên ma túy gọi là "kẹo" pha vào 02 cốc nước Cocacola để mọi người cùng uống. Tiếp đó, T5 đưa 01 thẻ nhựa cứng cho Tuấn A và bảo Tuấn A "xào ke" cho nhóm của T5 sử dụng, thấy vậy, nhân viên nữ tên H1 chủ động lấy đĩa sứ có sẵn, đem hơ nóng để Tuấn A "xào ke". Tuấn A đổ ma túy ketamine ra đĩa, dùng thẻ nhựa đảo đi đảo lại cho mịn rồi chia thành từng đường chỉ nhỏ, thẳng và lần lượt Tuấn A, T5, T6, Q, C1, C và H1 cùng sử dụng bằng cách dùng ống hút được quấn từ một tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng để hít bằng mũi. Khi dùng hết số ma túy ketamine trên thì T6 và C, Q và C1 ôm nhau nằm trên 02 giường trong phòng nghe nhạc, còn T5 thì bảo Tuấn A mua tiếp cho T5 01 chỉ ketamine và yêu cầu đổi nhân viên phục vụ khác. Tuấn A bảo T5 chuyển số tiền 1.700.000 đồng vào số tài khoản 0355413567 Ngân hàng M2 tên Giáp Thị X để trả tiền ma túy, sau khi T5 chuyển tiền xong thì Tuấn A cùng H1 đi khỏi quán. Khoảng 20 phút sau, thì Tuấn A cùng Giàng Thị P, sinh năm 2002, ở thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai đi đến quán K3, khi thấy Tuấn A quay lại, biết Tuấn A đã mua thêm được ma tuý, nên T5 chủ động lấy đĩa sứ hơ nóng để Tuấn A đổ ma tuý ketamine vừa mua được ra để "xào ke", sau đó, T5, T6, Q, C, C1 và P cùng nhau sử dụng ma túy.

Và đến hồi 01 giờ 30 phút ngày 16/10/2021, khi T5, T6, Q, Tuấn A, C, C1 và P đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội - Công an tỉnh B phối hợp cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y (nay là thành phố B) phát hiện đến bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Trong vụ án này, đối với Luyện Thị T7 là chủ quán karaoke P1 không có mặt ở qán, Hoàng Hữu D tối ngày 15/10/2021 có mặt tại quán, T7 khai chỉ thuê T làm quản lý, phục vụ khách khi đến thuê phòng hát, việc T cho khách thuê phòng để sử dụng ma túy Tĩnh không biết, không chỉ đạo T. Hoàng Hữu D chỉ biết nhóm của T5 đến thuê phòng để hát, việc T đưa khách lên phòng 4 để "bay sập" D không biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa T với Luyện Thị T7 và Hoàng Hữu D nhưng không có kết quả, ngoài lời khai không có các chứng cứ khác, nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với số ma túy, Tuấn A mang đến quán Phantom cho nhóm của T5 sử dụng, Tuấn A khai mua của người đàn ông không quen biết ở đường P, thuộc thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với số tài khoản 0355413567 Ngân hàng M2 mang tên Giáp Thị X, qua điều tra xác định, chủ tài khoản là Giáp Thị X, sinh năm 1999, ở thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tài khoàn này là chị X đã cho em chồng là Nông Thị L, sinh năm 1999, ở thôn T, xã T, huyện L mượn chứng minh thư nhân dân để mở tài khoản, hiện chị L đang sử dụng số tài khoản trên. Do có mối quan hệ quen biết với Tuấn A, nên ngày 15/10/2021, Tuấn A có bảo L cho nhờ chuyển tiền của Tuấn A vào tài khoản. Bản thân L không biết số tiền được chuyển đến tài khoản của mình là tiền mua ma túy, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Ngày 04/5/2022, L đã nộp về Cơ quan điều tra 4.000.000 đồng.

Đối với chiếc thẻ nhựa cứng các đối tượng dùng để "xào ke", qua điều tra xác định thẻ mang tên Trần Văn K1, sinh năm 1988 ở tổ dân phố P, thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B) là thẻ tư vấn tài chính bảo hiểm của công ty B1 cấp cho anh K1 tháng 2/2021, sau đó anh kiên bị mất thẻ từ tháng 6/2021. Việc các đối tượng nhặt được và dùng trong việc sử dụng ma tuý anh K1 không biết.

Đối với nhân viên nữ tên H1, do Tuấn A khai không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ của H1, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Trí Q, Phùng Mùi C, Hoàng Mùi C, Giàng Thị P và Trần Tuấn A đã bị Công an huyện Y (nay là thành phố B) xử lý hành chính.

Vật chứng gồm:

Số ma túy được hoàn lại sau giám định; 01 đĩa sứ màu trắng, hình tròn có đường kính 23 cm; 01 ống hút bằng tờ tiền VNĐ 10.000 đồng được quấn ngoài bằng vỏ đầu lọc thuốc lá; 01 loa xách tay màu đen nhãn hiệu harman/kardon; 01 đèn chiếu màu trắng và 01 đèn laze màu đen; 01 thẻ nhân viên tư vấn bảo hiểm màu trắng có tên Trần Văn K1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh của Nguyễn Văn T5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng của Hoàng Mùi C1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng có, ốp ngoài màu bạccủa Phùng Mùi Coi; 01 điện thoại di động Iphone Xs max, màu hồng của Giàng Thị P; 01 điện thoại di động Iphone màu hồng có ốp màu xanh đậm của Nguyễn Văn T6; 01 điện thoại Iphone màu vàng - đồng của Trần Tuấn A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng của Nguyễn Trí Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1102 màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen, có ốp điện thoại màu xanh thẫm của Trần Văn T và số tiền 4.000.000 đồng được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) để giải quyết theo thẩm quyền.

Với hành vi nêu trên, ngày 20/10/2021, Cơ quan điều tra đã khởi tố và ngày 15 tháng 6 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) đã ban hành cáo trạng truy tố Trần Văn T về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự; Trần Tuấn A, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn T6 và Nguyễn Trí Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và chuyển hồ sơ đến toà án nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) để xét xử theo thẩm quyền.

Ngày 28/4/2023, Toà án nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm và tuyên phạt các bị cáo: Trần Văn T 07 năm 06 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự; Trần Tuấn A 07 năm 06 tháng tù; Nguyễn Văn T5 07 năm 04 tháng tù; Nguyễn Trí Q 07 năm 02 tháng tù; Nguyễn Văn T6 07 năm tù cùng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Sau phiên toà sơ thẩm, Trần Văn T cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử nặng, chưa đúng người, đúng tội, bỏ lọt tội phạm và bị oan nên làm đơn kháng cáo. Ngày 26/10/2023, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử phúc thẩm (bản án số 172/2023/HS-PT) xét xử huỷ một phần bản án sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) đối với bị cáo Trần Văn T, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang để điều tra lại theo thẩm quyền.

Tiến hành điều tra lại, lấy lời khai, kết quả cho thấy:

Cơ sở P3 ở thôn Đ, xã C, huyện Y (nay là phường C, thành phố B), tỉnh Bắc Giang là của Luyện Thị T7, sinh năm 1987, ở thôn Đ, xã C, huyện Y (nay là phường C, thành phố B), tỉnh Bắc Giang thuê để kinh doanh hát Karaoke. Trần Văn T được T7 thuê làm quản lý quán hát từ ngày 10/10/2021, nhiệm vụ của T là có mặt từ 18 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau để mở cửa dọn dẹp phòng hát, đóng cửa khi hết giờ, phục vụ khi khách đến, đưa khách lên phòng và thanh toán tiền khách khi T7 không có mặt tại quán, được T7 trả 7.000.000 đồng/tháng. Tối ngày 16/10/2021, khi T5, T6, Q đến thì T là người dẫn lên phòng hát tầng 2, do T5 yêu cầu đổi phòng “Sập” thì T đồng ý và dẫn lên phòng nghỉ tầng 4 và chỉ cho nhân viên nữ cùng Tuấn A lên phòng “Sập”, mục đích để sử dụng ma túy.

Tài liệu có trong hồ sơ còn thể hiện: T là người mở cửa cho nhóm của Nguyễn Văn T5 vào, trong quá trình nhóm của T5, Tuấn A sử dụng ma tuý, hình ảnh C2 còn thể hiện T đã ba lần vào phòng mà nhóm của T5, Tuấn A đang sử dụng ma tuý. Mặt khác, đĩa sứ mà các đối tượng sử dụng ma tuý là do T là người lấy và đưa đĩa cho nhân viên đem lên phòng cho nhóm của Tuấn A sử dụng ma tuý.

Trần Văn T khai việc T dẫn T5, T6, Q lên phòng nghỉ tầng 4 là do Hoàng Hữu D chỉ đạo. Tuy nhiên ngoài lời khai của Thăng ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh.

Với tài liệu có trong hồ sơ, có đủ căn cứ xác định, hành vi của Trần Văn T đã phạm tội "chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".

Vật chứng vụ án: Hiện đã được xử lý theo bản án số 34 ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B).

Cáo trạng số 44/CT - VKSYD ngày 18/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.

Với nội dung nêu trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2025/HS-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

  • - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 256, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 đối với bị cáo Trần Văn T.
  • Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, thời gian tù tính từ ngày 16/10/2021.
  • Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/01/2025, bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án, lý do kháng cáo là Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức hình phạt là quá nặng, chưa đúng người, đúng tội, bỏ lọt tội phạm và oan sai.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T trình bày giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Bị cáo được bà T7 thuê làm việc tại quán K4, thuộc thôn Đ, xã C, huyện Y (nay là phường C, thành phố B) tỉnh Bắc Giang với nhiệm vụ phục vụ khi có khách đến thì mở cửa dọn dẹp phòng hát, đóng cửa khi hết giờ, thời gian làm việc từ ngày 13/10/2021, làm việc từ 18 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ ngày hôm sau, bị cáo không phải là người quản lý quán.

Tối ngày 15/10/2021, tại quán K4 bị cáo được D bảo ra mở cửa phía sau phòng hát cho khách vào, sau này bị cáo mới biết tên những người này là T5, Q, T6 và bị cáo có đưa những người này lên phòng hát tầng 2, thì T5 yêu cầu đổi phòng sập, bị cáo không biết phòng sập là gì nên đứng ở cầu thang tầng 2 gọi xuống phòng lễ tân hỏi D thì được D nói là đưa khách lên phòng sập tầng 4, sau đó bị cáo đưa mọi người lên phòng tầng 4 theo sự chỉ đạo của D, bị cáo chỉ vào phòng tầng 4 bật điện, cắm loa cho khách sau đó bị cáo xuống phòng lễ tân thì có nhân viên nữ một xuống xin đĩa kẹo, bị cáo có đưa chiếc đĩa đựng kẹo để cho nhân viên nữ mang lên phòng tầng 4, bị cáo không biết mục đích những người này sử dụng phòng tầng 4 để làm việc gì. Đến khoảng hơn 01 giờ ngày 16/10/2021 có Công an đến kiểm tra lập biên bản hành chính thì D bỏ trốn, chủ quán là Luyện Thị T7 đến nhưng không ký tên vào biên bản, Công an đã bảo bị cáo ký tên vào biên bản, sau đó điều tra viên hướng dẫn bị cáo viết đơn đầu thú theo ý điều tra viên đã soạn sẵn từ trước, tất cả các ngày bị cáo đi làm tại tại quán K4 thì anh Đào Hữu D1 đều có mặt ở quán để điều hành và thanh toán tiền với khách.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T5 trình bày:

Tối ngày 15/10/2021 anh và T6, Q có đến quán K4 để hát thì T là người ra mở cửa còn D1 ngồi ở bàn lễ tân, sau đó T đưa mọi người lên phòng hát tầng 2, anh bảo T là đổi phòng sập, T đưa anh và T6, Q lên phòng tầng 4 và vào phòng bật điện, cắm loa cho các anh rồi đi xuống tầng 1, sau đó mọi người mang ma tuý đến thì các anh cùng nhau sử dụng và bị công an bắt quả tang, thời gian đã lâu anh không nhớ hết sự việc, T có biết mọi người sử dụng ma tuý tại tầng 4 hay không thì anh không biết, anh giữ nguyên lời khai đã khai tại cơ quan điều tra.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T6 và Nguyễn Trí Q trình bày thống nhất với lời khai của Nguyễn Văn T5 và giữ nguyên lời khai đã khai tại cơ quan điều tra.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Tuấn A trình bày: Anh là người đến quán K4 sau T5, T6, Q khi đến cùng nhân viên nữ đi thẳng lên phòng tầng 4, không biết ai là người chuẩn bị phòng, sau đó các anh cùng nhau sử dụng và bị Công an bắt quả tang, thời gian đã lâu anh không nhớ hết sự việc, T có biết mọi người sử dụng ma tuý hay không thì anh không biết, anh giữ nguyên lời khai đã khai tại cơ quan điều tra.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Hữu D trình bày: Tối ngày 15/10/2021 anh có đến quán K4 chơi, chủ quán là chị T7 là người nhà của anh, anh có nghe điện thoại của khách đặt phòng hát và có bảo T ra mở cửa cho khách vào, anh không bảo T đổi phòng sập cho khách. Sau khi trình chiếu lại hình ảnh trong camera 3 thu giữ tại quán K4 thời gian từ 22 giờ 59 phút ngày 15/10/2021 và 0 giờ 55 phút đến 01 giờ 08 phút ngày 15/10/2021 thì D thừa nhận đây là hình ảnh của mình, còn việc ngồi dùng bút ghi chép vào quyển sổ tại bàn quầy không nhớ làm việc gì, anh giữ nguyên lời khai đã khai tại cơ quan điều tra.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Luyện Thị T7 trình bày: Chị là người thuê T là người quản lý quán K4 từ ngày 13/10/2021, không có hợp đồng văn bản mà chỉ nói với nhau bằng miệng, trả công 7.000000 đồng/tháng, thời gian làm việc từ 18 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ ngày hôm sau ngoài ra không thuê ai khác, T là người đưa khách và hướng dẫn khách sử dụng phòng hát, thanh toán tiền với khách khi không có chị ở đó, chị thuê lại quán K4 và không đầu tư bổ sung gì khác, sáng ngày 16/10/2021 khi công an đến lập biên bản hành chính tại quán K4 thì T có gọi chị đến quán nhưng chị không ký tên vào biên bản vì chị đã giao cho T là người quản lý quán, chị giữ nguyên lời khai đã khai tại cơ quan điều tra.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm:

Trong quá trình điều tra và truy tố Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng về tố tụng: Thứ nhất, có dấu hiệu lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và xâm phạm hoạt động tư pháp trong vụ án hình sự “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” xảy ra tại quán K3 ở thôn Đ, xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Thứ hai, quá trình điều tra vụ án “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” xảy ra tại quán K3 còn nhiều thiếu sót, bỏ lọt tội phạm nguy hiểm cho xã hội, không điều tra nội dung trên nhóm zalo do bà Luyện Thị T7 lập; có sự tẩy xóa tại một số bút lục trong hồ sơ vụ án và vi phạm về tố tụng trong quá trình tạm giữ Trần Văn T. Về nội dung vụ án: Thứ nhất, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y và VKSND huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) chỉ căn cứ vào lời khai của bà Luyện Thị T7 và ông Hoàng Hữu D để buộc tội và truy tố Trần Văn T phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy tại quán K3 là khiên cưỡng; Thứ hai, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y và Viện KSND huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang chưa áp dụng Điều 13 (Nguyên tắc suy đoán vô tội) và Điều 15 (Xác định sự thật khách quan của vụ án) quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đối với Trần Văn T; Thứ ba, chưa đủ căn cứ xác định bị cáo Trần Văn T có hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d, khoản 2 Điều 256 BLHS 2015. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 172/2023/HS-PT ngày 26/10/2023 của Toà án tỉnh Bắc Giang đã chỉ ra những thiếu sót trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sở thẩm và quyết định hủy một phần Bản án sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Toà án huyện Y, chuyển hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng để điều tra lại. Tuy nhiên, sau một thời gian điều tra lại, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ban hành Kết luận điều tra, kết luận bị can Trần Văn T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” và VKSND huyện Yên Dũng vẫn ban hành Cáo trạng truy tố bị can Trần Văn T ra trước TAND huyện Yên Dũng tội danh “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự. Do huyện Y sáp nhập vào địa giới hành chính của thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên vụ án “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” chuyển về TAND thành phố Bắc Giang để xét xử. Ngày 20/01/2025, TAND thành phố Bắc Giang mở lại phiên tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Văn T trong vụ án “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Sau khi nghị án, HĐXXST đã tuyên bị cáo Trần Văn T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” và tuyên phạt bị cáo T 7 năm 6 tháng tù. Không chấp nhận bản án sơ thẩm, bị cáo T đã kháng cáo toàn bộ bản án. Chúng tôi cho rằng, các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Y không thay đổi Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên khi bị cáo T và người tham gia tố tụng đã đề nghị bằng các Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên khác tiến hành điều tra lại vụ án “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với Trần Văn T thì có điều tra, truy tố bao nhiêu lần nữa vẫn không thay đổi được sự thật khách quan của vụ án này.

Từ sự phân tích, viện dẫn trên đây, đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b, c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự, hủy Bản án sơ thẩm số: 09/2025/HS-ST ngày 20/01/2025 của TAND thành phố Bắc Giang đối với bị cáo Trần Văn T xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 256 BLHS, chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho VKSND thành phố Bắc Giang để điều tra lại theo đúng tinh thần của Bản án hình sự phúc thẩm số 172/2023/HS-PT ngày 26/10/2023 của TAND tỉnh Bắc Giang, để không bỏ lọt tội phạm nguy hiểm cho xã hội đối với bà Luyện Thị T7 (chủ quán), ông Hoàng Hữu D (quản lý quán) và ông Triệu Văn N (người đứng tên đăng ký kinh doanh), tránh bỏ lọt tội phạm đối với người chủ mưu, cầm đầu, chỉ đạo và người quản lý quán K3 thuộc thôn Đ, xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, nhưng cũng không làm oan người vô tội.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà phúc thẩm, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nội dung kháng cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đối với bị cáo Trần Văn T về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa là Luật sư Trần Xuân K, Nguyễn Thị T4 và Luật sư Ong Thị T2 tranh luận đối đáp với đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình điều tra vụ án vi phạm về thủ tục tố tụng, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm là Hoàng Hữu D và Luyện Thị T7 về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với bị cáo T không phải là chủ quán và cũng không phải là người quản lý quán K3, T không được giao nhận tiền thanh toán của khách, do vậy bị cáo T không phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Sau khi tranh luận đối đáp với người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa, phân tích về tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo T, đại diện Viện sát giữ nguyên quan điểm đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T. Giữ nguyên phần quyết định của Bản án sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá lại hành vi của bị cáo, mức hình phạt của bị cáo là quá nặng, chưa đúng người, đúng tội, bỏ lọt tội phạm và oan sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét hành vi của bị cáo Trần Văn T bị khởi tố, truy tố và xét xử về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 172/2023/HS-PT ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã chỉ ra những thiếu sót trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và quyết định hủy một phần Bản án sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Toà án huyện Yên Dũng (nay là thành phố B), chuyển hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) để điều tra lại, tuy nhiên đến nay, Cơ quan điều tra vẫn chưa làm rõ. Cụ thể:

  • [2.1]. Việc Trần Văn T đến làm việc tại quán K3: T và T7 đều khai Thăng đến làm từ ngày 13/10/2021, thoả thuận bằng miệng và không có hợp đồng. T khai được T7 thuê làm phục vụ dọn dẹp quán theo sự điều hành của D, T7 và thời gian T làm việc thì D đều có mặt tại quán. T7 khai thuê T làm quản lý. D không thừa nhận lời khai của T nhưng thừa nhận có hình ảnh của mình tại Video thu giữ tại quán K3..Dữ liệu video từ 18h ngày 15/10/2021 đến 5h59p ngày 16/10/2021 có ghi nhận hình ảnh, việc làm của D, chị T7, T....Khi điều tra lại, Cơ quan điều tra vẫn không trích xuất dữ liệu Camera của quán K3 các ngày trước đó còn lưu trong đầu thu để làm rõ, đánh giá lời khai T7, D, T, để xác định nhiệm vụ, công việc của T được Luyện Thị T7 hay Hoàng Hữu D giao như thế nào. Khi làm việc tại quán K3, Trần Văn T có được tự ý đứng ra tiếp nhận khách đến thuê phòng, thuê dịch vụ chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy hay không hay đóng vai trò gì đối với việc để cho nhóm của Trần Tuấn A tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại địa điểm nêu trên.
  • [2.2]. Trong quá trình điều tra chưa làm rõ ai là người đã trang bị đèn led, loa đài phòng sập tầng 4 để các đối tượng sử dụng ma túy. Quán K3 có Giấy đăng ký hoạt động kinh doanh đứng tên ông Triệu Văn N. Tại hồ sơ và phiên toà, chị T7 khai thuê lại quán K5 của anh Hoàng Tiến M để kinh doanh, có Hợp đồng thuê nhà ký ngày 07/8/2021 (BL158), không đầu tư, trang bị gì thêm. Tại Biên bản làm việc ngày 04/5/2022 (BL159) anh Hoàng Tiến M khai không lắp các thiết bị âm thanh, đèn chiếu, đèn lead tại Phòng tầng 4. Hồ sơ chưa có lời khai của ông Triệu Văn N. Như vậy, Cơ quan điều tra chưa làm rõ để xem xét, đánh giá ai mới là người đã xây dựng, tạo lập phòng sập có các chức năng nghe nhạc, nghỉ ngơi cho người sử dụng ma túy (thu hút khách sử dụng ma tuý đến thuê phòng) cũng như việc chứng minh hành vi của bị cáo T có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không, nếu có thì vai trò của bị cáo T trong vụ án này như thế nào.
  • [2.3]. Chưa làm rõ căn cứ xác định T có mặt khi nhóm khách trong phòng sử dụng ma tuý. Việc trích xuất hình ảnh dữ liệu camera liên quan đến bị cáo T, đến Hoàng Hữu D và những người có liên quan đến sự việc còn chưa đầy đủ; Chưa làm rõ việc khi kiểm tra T có mặt trong phòng các đối tượng sử dụng ma túy hay không?
  • [2.4]. Tại các video trích xuất từ camera của quán K5 thể hiện: Hoàng Hữu D có mặt tại quán từ lúc 18 giờ ngày 15/10/2021 đến 01 giờ 16 phút ngày 16/10/2021 tại quầy tầng 1; Luyện Thị T7 là chủ quán, có mặt tại thời điểm quán được kiểm tra (từ 1 giờ 33p) nhưng khi lập biên bản kiểm tra lại không thể hiện có mặt Hoàng Hữu D, Luyện Thị T7.
  • [2.5]. Cơ quan điều tra chưa thu thập dữ liệu Camera của quán K3 các ngày trước đó còn lưu trong đầu thu theo quy định tại Điều 102 và Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • [2.6]. Việc hoạt động tại quán K3 theo bị cáo T khai được vợ chồng chị Luyện Thị T7, anh Hoàng Hữu D lập nhóm Z có đưa bị cáo vào nhóm nên tất cả công việc hoạt động, điều hành, quản lý của quán đều được thực hiện trên Zalo nhưng Cơ quan điều tra làm rõ, không thu giữ điện thoại của T7, của D. Khi thu giữ điện thoại của bị cáo Trần Văn T cơ quan điều tra không tiến hành kiểm tra, thu thập để làm rõ hoạt động, quản lý của quán, trên cơ sở đó để làm rõ hành vi của T7, D và T.
  • [2.7]. Căn cứ Điều 3 Thông tư 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14 tháng 11 năm 2015 của Bộ C4, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp cần làm rõ hành vi của chị Luyện Thị T7, anh Hoàng Hữu D và Trần Văn T có dấu hiệu phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” hay không, hay các đối tượng này đóng vai trò gì đối với hành vi để cho nhóm của Trần Tuấn A, Nguyễn Văn T5 tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại địa điểm nêu trên nhằm xác định sự thật của vụ án được quy định tại Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3]. Bản án huỷ yêu cầu điều tra lại để làm việc, tiến hành tố tụng đối với Hoàng Hữu D và Luyện Thị T7. Quá trình điều tra lại, Cơ quan điều tra chỉ xác định D và T7 không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm T8 và D đều có mặt tại phiên toà. Từ trích xuất camera xác định D nhiều lần đứng tại quầy lễ tân để thực hiện công việc của một nhân viên của quán chứ không phải đến chơi như D khai? Nội dung này chưa được Cơ quan điều tra xác minh làm rõ.

[4]. Tại phiên tòa phúc thẩm, khi thực hiện tranh tụng, Hội đồng xét xử trình chiếu chứng cứ dữ liệu điện tử là video trích xuất camera của quán K3 được lưu trữ trong USB trong hồ sơ vụ án cho thấy:

Khi Tổ công tác vào kiểm tra quán K3 trên mặt quầy thu ngân có 02 tập giấy để ghi chép. Bị cáo T xác định đó là 02 tập hoá đơn thường xuyên đặt trên mặt bàn quầy thu ngân của quán K3 và anh D là người ghi chép, quản lý tập hoá đơn này.

Trong video CAM 3 ghi nhận: có hình ảnh anh Hoàng Hữu D tính, ghi chép vào tập hoá đơn đặt trên mặt quầy thu ngân của quán K3 vào thời gian 22 giờ 59p ngày 15/10/2021và 0 giờ 57 đến 01 giờ 08p ngày 16/10/2021.

Dữ liệu video ghi nhận từ 1 giờ 33p chị T7 có mặt tại quán K3, trực tiếp lấy Giấy đăng ký hoạt động của quán K3 cất dưới tủ bàn quầy thu ngân để xuất trình cho đại diện Tổ công tác, tham gia làm việc với đại diện Tổ công tác nhưng các Biên bản kiểm tra cơ sở kinh doanh ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT, Biên bản kiểm tra hành chính phòng tầng 3, tầng 4 do Phòng CSQLHC về TTXH lập lại không có chữ ký nhận của bà Luyện Thị T7 là chủ cơ sở.

Video CAM 3 ghi nhận 02 tập hoá đơn được đặt tại mặt bàn quầy thu ngân của quán K3 cùng với Giấy đăng ký hoạt động của quán và nhiều thành viên Tổ công tác lật kiểm tra, chụp ảnh lại 2 tập hoá đơn này (vào thời điểm 1h20p, 1h24p - 1h29p, 1h34p ...đến 5h59p). Tuy nhiên, tại các Biên bản kiểm tra hành chính (BL97); Biên bản kiểm tra cơ sở kinh doanh (BL96), niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL106), Biên bản thu giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu của vụ án không thấy nhắc đến tài liệu (02 tập hoá đơn này) này.

Như vậy, theo dữ liệu trích xuất camera của quán K3 đã trình chiếu công khai tại phiên toà, cho thấy khi kiểm tra, Tổ công tác đã làm việc với Trần Văn T phát hiện và kiểm tra, chụp ảnh lại 02 tập hoá đơn và làm việc với chủ quán Luyện Thị T7 để yêu cầu xuất trình và kiểm tra giấy đăng ký hoạt động kinh doanh của quán K3 nhưng 2 tập hoá đơn chưa được thu thập để xem xét, đánh giá nhằm làm rõ ai là người quản lý hoạt động của quán K3, làm rõ sự liên quan của chị Luyện Thị T7, anh Hoàng Hữu D trong vụ án.

[5]. Hành vi của Luyện Thị T7, Hoàng Hữu D có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo T nên Toà án cấp sơ thẩm ra quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra nhiều lần yêu cầu làm rõ hành vi của T7, D có dấu hiệu của tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256 Bộ luật hình sự nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay thành phố B) giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Văn T và Toà án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về giới hạn của việc xét xử nên Toà án cấp sơ thẩm không có lỗi.

[6]. Như vậy, những nội dung đã được chỉ rõ tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 172/2023/HS-PT ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang nhưng sau khi Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định hủy một phần bản án sơ thẩm: 34/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Toà án huyện Yên Dũng, trả hồ sơ để cho chuyển hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) để điều tra lại, tuy nhiên đến nay vẫn chưa tiến hành điều tra làm rõ lại các tình tiết đã được bản án chỉ ra và có những tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm liên quan đến việc việc xác định sự thật khách quan của vụ án mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b, c khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bản án sơ thẩm số: 09/2025/HS-ST ngày 20/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang đối với bị cáo Trần Văn T bị xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự, chuyển toàn bộ hồ sơ cho VKSND thành phố Bắc Giang để điều tra lại.

[6]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Do hủy án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b, c khoản 1 Điều 358 của BLTTHS.

1. Hủy Bản án sơ thẩm số: 09/2025/HS-ST ngày 20/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang đối với bị cáo Trần Văn T bị xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.

Chuyển hồ sơ về cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang để điều tra lại.

2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/HS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 87/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger