Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 87/2025/HS-PT

Ngày: 19-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Long.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Anh Đào;

Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thái Ngọc Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thứ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 316/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2024/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị L, sinh ngày 30/10/1982 tại: huyện T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phú T và bà Thái Thị Đ; có chồng là Nguyễn Văn C và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của bị cáo: Ông Ngô Thanh T1 - Luật sư Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: số E C, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T2 và Nguyễn Thị L kết hôn năm 2003 và có 03 (ba) con chung là Phạm Nguyễn Như Ý, Phạm Nguyễn Kiều O, Phạm Nguyễn Na Na . Do mục đích hôn nhân không đạt được nên T2 và Lưu thuận T3 ly hôn vào tháng 6 năm 2023. Cháu O và cháu Ý sống với T2, còn cháu Na S với L. Khi ly hôn, T2 và Lưu tự thỏa thuận chia đôi đàn bò đang nuôi tại trại chăn nuôi ở thôn P, xã T, huyện P. T2 đưa bò về nuôi tại trại chăn nuôi của mình cách trại chăn nuôi của L khoảng 1km. Sau khi ly hôn, T2 và L cùng 03 con vẫn ở chung trong ngôi nhà tại thôn Đ, xã T, huyện P khoảng 02 tháng. Tuy nhiên, trong thời gian này, giữa T2 và L tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau thường xuyên và hay xảy ra xô xát, cháu O và Ý cũng thường xuyên mâu thuẫn với L nên T2 cùng cháu O về trang trại tại thôn P, xã T để ở và chăn nuôi, sản xuất, cháu N cũng đi theo T2 và O.

Khoảng 20h00' ngày 07/10/2023, T2 kiểm tra đàn bò của mình thấy thiếu bò nên đi tìm. T2 nghĩ bò của mình có thể tìm về nơi sinh sống cũ nên đã điều khiển xe mô tô Future II biển kiểm soát 92N9-0829 chở cháu O vào trại chăn nuôi của Lưu tìm. Lúc này, L có mặt tại đây thì phát hiện T2 đi xe vào trại của mình nên Lưu núp sau chuồng bò quan sát T2. T2 dựng xe mô tô gần chuồng bò của L rồi hai cha con đi tìm bò. Lưu nhớ lại mâu thuẫn, xô xát với cha con T2 trước đây nên sinh bực tức, Lưu lượm cây củi đập bể đèn xe mô tô của T2 để không cho T2 đi xe về, Lưu đẩy ngã xe rồi lấy điện thoại chụp hình xe mô tô bị ngã mục đích đăng lên mạng xã hội nhằm bôi nhọ, xúc phạm danh dự của T2 vô trại của mình trộm cắp. Khi T2 và O tìm bò không thấy nên quay lại chuồng bò để lấy xe đi về thì thấy Lưu đứng bên cạnh xe mô tô của T2, nên T2 cãi nhau với L 1 lúc rồi bỏ lại xe cùng O đi bộ về trại của mình.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, tại trại chăn nuôi của mình, Nguyễn Thị L sử dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung A04s đăng nhập tài khoản Facebook cá nhân “Lệ Lưu” đăng bài có nội dung: “Hiện trường vụ án mất trộm tối nay tại Tiểu Tây T, ngay lúc này 22h 2p, anh Phạm Văn T2 cùng một người đã đột nhập vào nhà dân để lấy trộm hay đầu độc bò, lợn...và bị bắt quả tang ngay tại trận. Vụ việc đang được gia đình trình báo cùng công an Tam Lãnh”, kèm 02 (hai) hình ảnh xe mô tô BKS 92N9-0829. Bài đăng thể hiện có 144 lượt like, 51 lượt bình luận, không có lượt chia sẻ.

Bà Phạm Thị N1 (là chị ruột của T2) sử dụng tài khoản Facebook cá nhân của mình “Dang Phuong” thấy bài đăng của L nên đã bình luận bài viết. Sau đó, L có bình luận với tài khoản Facebook “Dang Phuong” nội dung tin nhắn bình luận vu khống Phạm Văn T2 và con ruột Phạm Nguyễn Như Ý có quan hệ “loạn luân, bất chính” với nhau. Có 03 lượt “Lệ Lưu” bình luận trực tiếp: “Tui nói cho chị biết cái thứ con mà lấy cha công khai tui bỏ đó, chị hỏi thằn e mình đi, chị đừng khui ra mắt tui nói nhục thằn e chị đó”, “Chính mắt tui thấy 2 cha con nó lấy nhau, đầu đuôi câu chuyện chị vào tin nhắn đọc thật kỹ, đọc xong về hỏi thằn e ruột mình có k, khi đó đã nói gì nghe bà chị” “Loại lộn luân đó tui bỏ”, không có lượt like, chia sẻ. L có nhắn tin messenger cho “Dang Phuong” có nội dung: “ông T2 em chị ngay cả con gái mình còn lấy; Này chính mắt em trông thấy; Nay ở T nhục quá nên dắt lên núi lấy cho khỏi ai biết; Trên là vụ việc xảy ra trong phòng con ý; Em đã chứng kiến tất cả; Chị có thể gửi đoạn em kể cho ông trung xem; Vì vậy em đã không chấp nhận đứa con đó”.

Ngày 08/10/2023, Phạm Nguyễn Như Ý sử dụng tài khoản facebook cá nhân “Phạm Nguyễn Như Ý” phát hiện Lưu đăng bài và hình ảnh về sự việc xảy ra vào tối 07/10/2023 như nêu trên. Do đọc và thấy có rất nhiều lượt thích và bình luận về nội dung bài đăng của tài khoản “Lệ Lưu” vừa bình luận, vừa trả lời bình luận tương tác với nhiều người sử dụng facebook về bài viết trên có nội dung vu khống T2 trộm cắp tài sản, đầu độc bò heo, “loạn luân”, “lấy con gái”... nên Ý đã chụp 06 ảnh màn hình điện thoại về bài đăng của trang facebook “Lệ Lưu” và các dòng bình luận rồi gửi vào tin nhắn Z cho O. Oanh gửi hình đó qua tin nhắn Zalo cho T2, T2 in ra thành 06 (sáu) ảnh và viết đơn trình báo gửi Công an xã T. Đến khoảng ngày 09/10/2023, nhận thấy hành vi trên là sai trái, vi phạm pháp luật nên Nguyễn Thị L tự động gỡ bỏ, xóa bài đăng nêu trên.

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Vu khống”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 156; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngày 01/11/2024, bị cáo Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Vu khống” theo điểm a khoản 3 Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 15 tháng tù là không nặng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp đơn xin giảm nhẹ của bị hại, giấy nộp tiền bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại. Do phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại cấp phúc thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt, giảm một phần hình phạt từ 03 tháng đến 05 tháng tù đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị L trình bày luận cứ: Thống nhất về tội danh, điều luật mà bản án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung hình phạt phạm tội “Vì động cơ đê hèn” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 156 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là không đúng bởi vì giữa bị cáo và chồng là anh Phạm Văn T2 có mâu thuẩn từ trước, trong lúc nóng giận bị cáo đã đăng bài vu khống chỉ nhằm mục đích cho bỏ tức đối với anh T2 chứ không nhằm mục đích trả thù hay động cơ gì khác. Ngoài ra, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền hơn 50.000.000 đồng, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện lo cho gia đình, bị cáo còn phải nuôi một con còn đang tuổi đi học.

Bị cáo đồng ý với luận cứ bào chữa của người bào chữa, không tranh luận bổ sung, xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.
  3. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn với chồng cũ và con cái sau khi ly hôn, muốn trả thù cá nhân nên khoảng 22 giờ 00 phút ngày 07/10/2023, Nguyễn Thị L đã sử dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung A04s, để vào mạng xã hội Facebook, sử dụng tài khoản cá nhân “Lệ Lưu” đăng bài viết, hình ảnh, loan truyền những thông tin không đúng sự thật nhằm vu khống Phạm Văn T2 “trộm cắp tài sản, đầu độc trâu, bò” của L. Phạm Thị N1 sử dụng tài khoản Facebook cá nhân của mình “Dang Phuong” thấy bài đăng của L nên đã bình luận bài viết. Sau đó, L có bình luận với tài khoản Facebook “Dang Phuong” nội dung tin nhắn bình luận vu khống Phạm Văn T2 và con ruột Phạm Nguyễn Như Ý có quan hệ “loạn luân”. Đến khoảng ngày 09/10/2023, nhận thấy hành vi trên là sai trái, vi phạm pháp luật nên Nguyễn Thị L tự động gỡ bỏ, xóa bài đăng nêu trên. Bị cáo Lưu đăng bài nội dung vu khống giữa chồng và con ruột của mình có quan hệ loạn luân đã thể hiện động cơ xấu xa, thấp hèn, không nghĩ đến danh dự, nhân phẩm, tư cách của người khác, đặc biệt trong trường hợp này là con gái ruột của mình, hành vi phạm tội của bị cáo đã thể hiện động cơ đê hèn. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Vu khống” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 156 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
  4. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị L, thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 đồng thời áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để làm căn cứ xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 15 tháng tù là có căn cứ pháp luật và không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp đơn xin giảm nhẹ của các bị hại, giấy nộp tiền bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại Phạm Nguyễn Như Ý. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự phát sinh tại cấp phúc thẩm; xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt, giảm một phần hình phạt đối với bị cáo.
  5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị Lưu K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam về hình phạt;

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 156; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vu khống”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

  1. Bị cáo Nguyễn Thị Lưu K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (19/3/2025).

Nơi nhận:

  • - Các cơ quan tiến hành tố tụng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Quảng Nam;
  • - Phòng HSNV Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đinh Tấn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/HS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về hình sự

  • Số bản án: 87/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kháng cáo về hình phạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger