Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 87/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30-5-2025

Về việc T/c “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng Nhớ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Chưởng, bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn không tham gia phiên tòa.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Duy Ngọc T, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Ông Lê Vũ L, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên hệ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

(Các đương sự đều có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà Duy Ngọc T trình bày: Bà và ông L quen biết, tự tìm hiểu rồi chung sống với nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu vào năm 2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau 01 con chung. Tuy nhiên khoảng thời gian gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nhưng cả hai không có biện pháp nào để hàn gắn được mối quan hệ này và vợ chồng đã chọn cách sống ly thân từ năm 2024. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Về quan hệ hôn nhân: Bà Duy Ngọc T yêu cầu ly hôn ông Lê Vũ L.
  • Về con chung: Có 01 con chung tên con chung tên Lê Phát L1, sinh ngày 22/10/2017. Hiện cháu L1 đang sống với cùng với bà T. Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi cháu L1. Không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ngày 20/5/2025 bị đơn ông Lê Vũ L có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T:

  • Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà T.
  • Về con chung: Ông và bà T có 01 con chung tên Lê Phát L1, sinh ngày 22/10/2017. Khi ly hôn ông đồng ý để bà T tiếp tục nuôi dưỡng cháu L1. Ông không cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.

Hội đồng xét xử đã công bố bản tự khai của nguyên đơn và văn bản trình bày ý kiến của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn Lê Vũ L, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung, xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn bà Duy Ngọc T và bị đơn ông Lê Vũ L quen biết, tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã U, huyện P, tỉnh Bạc Liêu theo giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 15/02/2016 nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

Lời khai của nguyên đơn thừa nhận về tình cảm của vợ chồng xảy ra nhiều bất hòa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm không được vun đắp và cả hai cũng không có biện pháp nào để hàn gắn mối quan hệ, vợ chồng đã chọn cách sống ly thân rồi từ đó tình cảm ngày càng trở nên phai nhạt nên nguyên đơn có yêu cầu ly hôn.

Bị đơn ông Lê Vũ L cũng có văn bản ý kiến đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của bà Duy Ngọc T.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa bà T và ông L không đạt được nên chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà T đối với ông L theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Bà T và ông L có 01 con chung tên Lê Phát L1, sinh ngày 22/10/2017. Hiện nay cháu L1 đã trên 07 tuổi và cháu cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ để ổn định việc học.

Xét thấy, để đảm bảo về mọi mặt cho con như: Môi trường sống, sinh hoạt và phát triển tâm sinh lý. Do đó, cần ổn định cho các con được tiếp tục sống với bà T. Điều này phù hợp với nguyện vọng của con và ý kiến đồng ý của ông L để con được tiếp tục sống cùng với bà T cũng như phù hợp với quy định pháp luật.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Do vậy, HĐXX nên chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu L1 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Duy Ngọc T.

  1. Về hôn nhân: Bà Duy Ngọc T được ly hôn với ông Lê Vũ L.
  2. Về con chung: Bà Duy Ngọc T và ông Lê Vũ L có 01 con chung tên Lê Phát L1, sinh ngày 22/10/2017.
    • - Giao cháu Lê Phát L1 cho bà Duy Ngọc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con.
    • - Bà Duy Ngọc T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
  3. Về nợ chung, tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Duy Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021679 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn. (Đã nộp xong)
  5. Về quyền kháng cáo: Bà Duy Ngọc T và ông Lê Vũ L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phước Long, H. Phước Long, tỉnh Bạc Liêu;
  • - Lưu VP;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thị Hồng Nhớ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 87/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger