Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 87/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/5/2025

(V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Kim Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Phước

Ông Trần Thanh Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Phước Long mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 122/2025/TLST – HNGĐ, ngày 03 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2025/QĐXXST – HNGĐ, ngày 25 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 109/2025/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Tô Kim T, sinh ngày 01/01/1984. Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Vắng mặt
  2. Bị đơn: Anh Bùi Văn H, sinh ngày 01/01/1975. Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/02/2025, các biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Tô Kim T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2011, chị T và anh H có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu chị T và anh H chung sống hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra mâu thuẩn do vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, từ đó cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và chị T, anh H đã ly thân với nhau khoảng tháng 10 năm 2024 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu xin ly hôn với anh Bùi Văn H.

Về con chung: Chị T xác định giữa chị và anh H có với nhau 03 người con chung tên Bùi Ngọc Cát T1, sinh ngày 22/3/2012; Bùi Khánh T2, sinh ngày 14/02/2017 và Bùi Ngọc Phương A, sinh ngày 17/4/2023. Hiện tại các con đang sống với chị T nên chị T yêu cầu nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định giữa chị T và anh H không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị T không yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn anh Bùi Văn H không đến Tòa án và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án dù Tòa án đã thông báo, triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh H theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Tô Kim T được ly hôn với anh Bùi Văn H.
  2. Về con chung: Tiếp tục giao các cháu Bùi Ngọc Cát T1, sinh ngày 22/3/2012; Bùi Khánh T2, sinh ngày 14/02/2017 và Bùi Ngọc Phương A, sinh ngày 17/4/2023 cho chị Tô Kim T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Bùi Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Tô Kim T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn H và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” là đúng quy định.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Bùi Văn H có nơi đăng ký thường trú tại ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[3] Nguyên đơn chị Tô Kim T tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị T. Bị đơn anh Bùi Văn H vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh H.

[4] Xét yêu cầu ly hôn của chị Tô Kim T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2011, chị T và anh H có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, chị T xác định vợ chồng chị thường xuyên cải nhau, hôn nhân không hạnh phúc và chị T, anh H đã ly thân với nhau khoảng tháng 10 năm 2024 cho đến nay. Từ khi ly thân đến nay chị T và anh H cũng không có tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, không ai liên lạc với ai. Từ đó, cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị T và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tô Kim T, cho chị T được ly hôn với anh Bùi Văn H.

[5] Về con chung: Chị T xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh H có 03 người con chung là cháu Bùi Ngọc Cát T1, sinh ngày 22/3/2012; Bùi Khánh T2, sinh ngày 14/02/2017 và Bùi Ngọc Phương A, sinh ngày 17/4/2023. Hiện tại các con đang sống với chị T nên chị T yêu cầu nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, các cháu Cát T1, Khánh T2 và Phương A đang sống cùng chị T và các cháu đã có cuộc sống, môi trường ăn, ở ổn định. Đồng thời, cháu Cát T1 và cháu Khánh T2 có nguyện vọng theo sống cùng mẹ là chị T khi cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao các cháu Bùi Ngọc Cát T1, sinh ngày 22/3/2012; Bùi Khánh T2, sinh ngày 14/02/2017 và Bùi Ngọc Phương A, sinh ngày 17/4/2023 cho chị Tô Kim T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[6] Về cấp dưỡng: Chị Tô Kim T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định giữa chị và anh H không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Buộc chị Tô Kim T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Tô Kim T được ly hôn với anh Bùi Văn H.
  2. Về con chung: Tiếp tục giao các cháu Bùi Ngọc Cát T1, sinh ngày 22/3/2012; Bùi Khánh T2, sinh ngày 14/02/2017 và Bùi Ngọc Phương A, sinh ngày 17/4/2023 cho chị Tô Kim T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Buộc chị Tô Kim T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch số tiền là 300.000 đồng. Chị T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng tại biên lai thu số 0003307 ngày 03/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - UBND xã nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Kim Phương

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 87/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger