|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 87/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 5 - 2025 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Cảm, bà Trần Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Hoàng Phương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27/5/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 725/2024/TLST-HNGĐ ngày 18/10/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/4/2025, giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Y Lim K, sinh năm 2000 (vắng mặt).
Địa chỉ: Quốc lộ B, buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bị đơn: Chị H' Nghih Bkrông, sinh năm 2002 (vắng mặt).
Địa chỉ: Buôn H, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn trình bày:
Anh Y Lim K và chị H' Nghih Bkrông kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 23/7/2020 tại UBND xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn hôn nhân ngày càng lớn và không thể hàn gắn nên anh Y L và chị H' Nghih đã ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay. Hiện anh Y L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn đối với chị H' Nghih Bkrông.
Về con chung: Anh Y L và chị H' Nghih có 01 con chung là cháu Y Sian B, sinh ngày 18/9/2020, hiện con chung do chị H' Nghih trực tiếp nuôi dưỡng; nguyện vọng của anh Y L đồng ý giao cháu Y S cho chi H' Nghih tiếp tục nuôi dưỡng; các đương sự tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Y L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn chị H' Nghih Bkrông trình bày:
Chị H' Nghih Bkrông và anh Y L Kpor kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 23/7/2020 tại UBND xã E, thành phố B. Thời gian đầu hôn nhân hạnh phúc, đến giữa năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân của mâu thuẫn như lời trình bày của anh Y Lim K là đúng. Bị đơn xác định hiện nay không còn tình cảm vợ chồng với anh Y Lim K nên đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị H' Nghih và anh Y L Kpor có 01 con chung là cháu Y Sian B, sinh ngày 18/9/2020. Nguyện vọng của chị H' Nghih được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Y Lim K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo mức 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H' Nghih không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 và 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho anh Y L được ly hôn đối với chị H' Nghih; giao cháu Y Sian B cho chị H' Nghih trực tiếp nuôi dưỡng, anh Y Lim K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo mức 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp “Ly hôn và con chung” đối với chị H' Nghih Bkrông (cư trú tại xã E, thành phố B), đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, anh Y Lim K và chị H' Nghih Bkrông vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Y L và chị H' Nghih kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 28/02/2025 (bút lục 33) thể hiện: “Trong quá trình chung sống tại địa phương, anh Y L và chị H' Nghih có những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp và hiện đã ly thân”. Trong quá trình giải quyêt vụ án, anh Y L và chị H' Nghih đều xác định không còn tình cảm vợ chồng và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Y L và chị H' Nghih đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Y L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.2] Về con chung: Anh Y L và chị H' Nghih có 01 con chung là cháu Y Sian B, sinh ngày 18/9/2020. Các đương sự thống nhất giao con chung cho chị H' Nghih trực tiếp nuôi dưỡng, chị H' Nghih yêu cầu anh Y L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo mức 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp theo Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: Nguyên đơn anh Y Lim K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Y Lim K.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Y Lim K được ly hôn đối với chị H' Nghih Bkrông.
Về con chung: Giao cháu Y Sian B, sinh ngày 18/9/2020 cho chị H' Nghih Bkrông trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Anh Y Lim K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Y Sian B theo mức 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí:
Nguyên đơn anh Y Lim K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2023/0013560 ngày 23/9/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn anh Y Lim K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 87/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn và con chung
- Số bản án: 87/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Y Lim K và chị H’ Nghih Bkrông kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 23/7/2020 tại UBND xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn hôn nhân ngày càng lớn và không thể hàn gắn nên anh Y L và chị H’ Nghih đã ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay. Hiện anh Y L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn đối với chị H’ Nghih Bkrông.
