Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 87/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-5-2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thụy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Tô Văn Nhung;
  • Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Hồng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 44/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Đỗ Thị Phượng L, sinh năm 1988; thường trú: thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; tạm trú: 185/63/8 đường T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: ông Lê Tấn C, sinh năm 1985; thường trú: D, tổ B, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: A, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đỗ Thị Phượng L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà Đỗ Thị Phượng L và ông Lê Tấn C có thời gian tìm hiểu nhau một thời gian, sau đó tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi kết hôn vợ chồng ông bà sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông C thường xuyên uống rượu, đánh đập bà L, mặc dù bà L nhiều lần cho ông C cơ hội sửa đổi nhưng vẫn không cải thiện, vợ chồng ly thân từ tháng 7/2024 cho đến nay. Nay bà L xác định không còn tình cảm với ông C nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông C.

Về con chung: quá trình chung sống ông bà có 01 con chung là cháu Lê Đỗ Tấn A, sinh ngày 05/5/2013. Trong thời gian vợ chồng ly thân, cháu An sinh S cùng với bà L. Trong đơn khởi kiện bà L yêu cầu sau ly hôn trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Quá trình tố tụng bà L thay đổi yêu cầu, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: bà Đỗ Thị Phượng L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lê Tấn C:

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu ông C có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L nhưng ông C không có ý kiến, đồng thời cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ. Tòa án tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu ông C tham gia hòa giải nhưng ông C vắng mặt, đồng thời bà L có yêu cầu từ chối hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu ông C tham gia phiên tòa vào ngày 06/5/2025 và ngày 26/5/2025 nhưng ông C vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà L được xem xét trên cơ sở chứng cứ do bà L cung cấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đối với bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không chấp hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 06/5/2025 và ngày 26/5/2025 nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là đúng với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

[1] Về tố tụng: nguyên đơn bà Đỗ Thị Phượng L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Lê Tấn C đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Đỗ Thị Phượng L và ông Lê Tấn C là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 29/7/2008 theo giấy chứng nhận kết hôn số 136, quyển số 01/2008 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Bà L xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn cụ thể là do ông C thường xuyên uống rượu, đánh đập bà L, vợ chồng ly thân từ tháng 7/2024 cho đến nay. Nay, bà L xác định không còn tình cảm với ông C nên yêu cầu ly hôn. Quá trình tố tụng, Tòa án triệu tập ông C đến Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L và cung cấp chứng cứ liên quan đến vụ án nhưng ông C không đến. Điều này chứng tỏ bản thân ông C cũng không muốn vợ chồng có cơ hội để đoàn tụ với nhau, còn bà L xác định không còn tình cảm với ông C. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà L yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về con chung: quá trình chung sống ông bà có 01 con chung là cháu Lê Đỗ Tấn A, sinh ngày 05/5/2013. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi phải bảo đảm quyền lợi của con chưa thành niên. Trong suốt quá trình tố tụng ông C không có ý kiến thể hiện nguyện vọng mong muốn nuôi con chung hay không, hơn nữa trong thời gian vợ chồng ly thân thì cháu A đều do bà L nuôi dưỡng. Cho nên, bà L yêu cầu trực tiếp nuôi con chung là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về cấp dưỡng: bà Đỗ Thị Phượng L tự nguyện không yêu cầu ông Lê Tấn C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: bà Đỗ Thị Phượng L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Phượng L. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Đỗ Thị Phượng L phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Phượng L về việc ly hôn, nuôi con với ông Lê Tấn C.
    • - Về quan hệ hôn nhân: bà Đỗ Thị Phượng L được ly hôn với ông Lê Tấn C (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 136, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/7/2008).
    • - Về con chung: ông Lê Tấn C có trách nhiệm giao con chung là cháu Lê Đỗ Tấn A, sinh ngày 05/5/2013 cho bà Đỗ Thị P Liên tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đỗ Thị Phượng L không yêu cầu ông Lê Tấn C cấp dưỡng nuôi con.
    • Sau ly hôn, ông Lê Tấn C có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, bà Đỗ Thị Phượng L không có quyền cản trở ông Lê Tấn C thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
    • - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: bà Đỗ Thị Phượng L không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Đỗ Thị Phượng L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007699 ngày 14/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Văn Nhung

Nguyễn Thị Thụy

Hoàng Lệ Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 87/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger