|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 87/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25-6-2025. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Tấn Hoành.
- Bà Nguyễn Thị Đông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Thuỷ, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thuý Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Phú Uyên P, sinh năm 1999. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ D, thôn T, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
- Bị đơn: Ông Phạm Nguyễn Vạn P1, sinh năm 1999. (Vắng mặt)
Địa chỉ: H N, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/01/2025, bản trình bày ngày 20/02/2025, nguyên đơn, bà Phạm Phú Uyên P trình bày:
Vợ chồng bà sau thời gian tìm hiểu thì quyết định kết hôn vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Hôn nhân hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện. Sau khi kết hôn khoảng một năm, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do ông Phạm Nguyễn Vạn P1 không chung thuỷ, không có trách nhiệm trong việc nuôi dạy con cái, chăm lo cho gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Ông P1 vẫn không có gì thay đổi, vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng tiêu cực đến vợ con. Nay bà P xét thấy cuộc
sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà P cương quyết xin ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Vy K, sinh ngày 31/10/2021. Bà P hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con và yêu cầu ông P1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) cho đến khi con trưởng thành.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Theo bản trình bày ngày 28/3/2025, bị đơn, ông Phạm Nguyễn Vạn P1 trình bày:
Vợ chồng ông kết hôn vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Hôn nhân hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng rất hạnh phúc. Nhưng sau đó, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi vả. Hai vợ chồng có hoà giải và gia đình hai bên khuyên nhủ nhưng không thành. Nay bà P yêu cầu ly hôn, ông chấp nhận ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Vy K, sinh ngày 31/10/2021. Sau khi ly hôn, bà P sẽ trực tiếp nuôi con và ông P1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) cho đến khi con trưởng thành.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật, có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Phạm Phú Uyên P được ly hôn ông Phạm Nguyễn Vạn P1. Về con chung, giao cháu Phạm Vy K, sinh ngày 31/10/2021 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, ông P2 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), ông P2 có quyền thăm nom con chung. Bà Phạm Phú Uyên P, ông Phạm Nguyễn Vạn P1 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà Phạm Phú Uyên P khởi kiện yêu cầu xin ly hôn ông Phạm Nguyễn Vạn P1; ông P1 cư trú tại H N, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
Trước khi mở phiên tòa, Tòa án đã tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Phạm Phú U P và ông Phạm Nguyễn Vạn P1. Tại phiên tòa, bà P, ông P1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hội An căn cứ vào khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông, bà.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Phú Uyên P và ông Phạm Nguyễn Vạn P1 kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam vào ngày 23/9/2021 (số: 53/2021) nên hôn nhân của họ là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng theo bà P là do ông Phạm Nguyễn Vạn P1 không chung thuỷ, không có trách nhiệm trong việc nuôi dạy con cái, chăm lo cho gia đình; còn đối với ông P1, vợ chồng mâu thuẩn vì bất đồng quan điểm, dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Do đó, bà P nộp đơn xin ly hôn ông P1. Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tổ chức nhiều lần hòa giải, nhưng ông P1 đều cố tình vắng mặt, bà P vẫn cương quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà P và ông P1 đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Phú Uyên P theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà P,ông P1 có 01 con chung tên Phạm Vy K, sinh ngày 31/10/2021. Bà P hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông P1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Cháu Vy K hiện còn quá nhỏ, rất cần sự chăm sóc của người mẹ, ông P1 cũng thống nhất giao con chung cho bà P nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Vy K cho bà P nuôi dưỡng và ông P1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) cho đến khi cháu Phạm Vy K tròn 18 tuổi, đủ khả năng lao động tự nuôi sống bản thân. Ông P1 được quyền thăm nom chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Bà Phạm Phú Uyên P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Phạm Phú Uyên P phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về Quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Phú Uyên P được ly hôn ông Phạm Nguyễn Vạn P1.
[2] Về con chung: Bà Phạm Phú U P và ông Phạm Nguyễn Vạn P1 có một con chung tên Phạm Vy K, sinh ngày 31/10/2021.
Giao cháu Phạm Vy K cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Ông Phạm Nguyễn Vạn P1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 7 năm 2025 cho đến khi cháu Vy K tròn 18 tuổi và đủ khả năng lao động tự nuôi sống bản thân.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền được trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông Phạm Nguyễn Vạn P1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
[3] Án phí:
Bà Phạm Phú Uyên P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0019334 ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hội An. Bà P đã nộp đủ án phí.
Ông Phạm Nguyễn Vạn P1 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Bà Phạm Phú Uyên P và ông Phạm Nguyễn Vạn P1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bích Hà |
Bản án số 87/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 87/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án giải quyết yêu cầu ly hôn của bà Phạm Phú Uyên P
