TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 03 - 2025 V/v:"tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đăng
Ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: không.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về "tranh chấp hôn nhân và gia đình", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 82/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Vũ Thị L, sinh ngày 22/10/1992; nơi thường trú: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: O-ri, Samgi-myeon, I-si, J-do, Hàn Quốc; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: anh Bùi Văn T, sinh ngày 20/3/1993; nơi thường trú: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: S-ri, Jangheung-myeon, Yangju-gun, G-do, Hàn Quốc; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Bùi Văn L1, sinh năm 1969 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; đều vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai (có chứng thực của Đ tại Hàn Quốc), nguyên đơn – chị Vũ Thị L trình bày: chị Vũ Thị L và anh Bùi Văn T kết hôn với nhau vào ngày 06/9/2016 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hai bên chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì năm 2017, vợ chồng sang Hàn Quốc để xây dựng kinh tế gia đình. Năm 2022, giữa chị L và anh T bắt đầu nảy sinh nhiều tranh cãi, mâu thuẫn dẫn đến ly thân, nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hoà hợp, không có tiếng nói chung, dù đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị L ly hôn anh Bùi Văn T.
Về con chung: chị L, anh T có 01 con chung là Bùi Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2020, hiện đang sống cùng ông bà nội là ông Bùi Văn L1 và bà Bùi Thị H, tại xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và nhờ bố mẹ đẻ anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Quỳnh A trong thời gian chị L ở nước ngoài; khi về nước, chị L sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do hiện nay chị L đang sống tại Hàn Quốc, không thể về Việt Nam giải quyết việc ly hôn nên chị L đề nghị Tòa án giải quyết vụ án trên vắng mặt chị L; uỷ quyền cho bà Lô Thị Lan H1 - Công ty L2 và Cộng sự (địa chỉ: ngõ D D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội) thay mặt chị L nhận các văn bản tố tụng do Tòa án gửi và nộp các văn bản, tài liệu cho Tòa án.
Tại Bản tự khai (có chứng thực của Đ tại Hàn Quốc), bị đơn – anh Bùi Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh Bùi Văn T thống nhất về thời gian, địa điểm, đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng; anh Bùi Văn T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Vũ Thị L.
Về con chung: anh T, chị L có 01 con chung, hiện đang ở cùng bố mẹ đẻ anh T như chị L khai. Nếu ly hôn, anh đề nghị Toà án giao con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; đề nghị tạm giao cháu Quỳnh A cho ông bà nội cháu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị L về nước.
Về cấp dưỡng nuôi con: anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn trình bày ý kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Bùi Văn L1 và bà Bùi Thị H trình bày:
Ông bà là bố mẹ đẻ của anh Bùi Văn T. Từ tháng 9/2020 đến nay, ông bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của anh T, chị L là cháu Bùi Quỳnh A. Nếu anh T, chị L ly hôn, ông bà đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Quỳnh A khi anh T, chị L đang ở nước ngoài theo nguyện vọng của anh T, chị L và không yêu cầu giải quyết tiền công đã chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Quỳnh A. Ông L1, bà H đề nghị được vắng mặt tất cả các buổi làm việc, phiên họp và xét xử tại Toà án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: vụ án "tranh chấp hôn nhân và gia đình" giữa chị Vũ Thị L và anh Bùi Văn T, trong đó chị L và anh T đều có hộ khẩu thường trú tại: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An và hiện nay đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc (có chứng thực của Đ tại Hàn Quốc) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát: vụ án không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị được vắng mặt tất cả các phiên làm việc, phiên họp, phiên xét xử tại Toà án. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – chị Vũ Thị L, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị L và anh Bùi Văn T kết hôn với nhau vào ngày 06/9/2016 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, là hôn nhân hợp pháp. Hai bên chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn. Trong thời gian chị L, anh T lao động tại Hàn Quốc (từ năm 2017) thì hai người phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến ly thân đến nay, do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hoà hợp, không có tiếng nói chung, dù đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không có kết quả. Chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn thì anh T đồng ý.
Xét thấy tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị L, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị L và anh Bùi Văn T theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 3, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao.
[4.2] Về con chung: chị L, anh T có 01 con chung là Bùi Quỳnh A, sinh ngày 26/03/2020, hiện đang sống cùng ông bà nội là ông Bùi Văn L1 và bà Bùi Thị H, tại xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh T1 đồng ý với ý kiến chị L. Chị L, anh T1 đề nghị Toà án tạm giao cháu Quỳnh A cho ông L1, bà H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị L ở nước ngoài. Ông L1, bà H đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của anh T1 chị L trong thời gian anh chị ở nước ngoài. Về tiền công và chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu, ông L1 bà H2 yêu cầu Toà án giải quyết.
Sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con chưa thành niên và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Vũ Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.
Về tiền công và chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng Bùi Quỳnh A: ông L1 bà H không yêu cầu Toà án giải quyết, miễn xét.
[4.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị L, anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[5] Về án phí: chị Vũ Thị L và anh Bùi Văn T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 207; Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 3, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị L và anh Bùi Văn T.
2. Về con chung: giao con chung là Bùi Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2020 cho chị Vũ Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị L đang ở nước ngoài nên tạm giao cháu Bùi Quỳnh A cho ông Bùi Văn L1 và bà Bùi Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị L trở về Việt Nam.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không giải quyết.
Anh Bùi Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.
Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Bùi Quỳnh A: Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
3. Án phí: chị Vũ Thị L phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị Vũ Thị L đã nộp (do chị Lô Thị Lan H1 nộp thay) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013816 ngày 26/12/2024; anh Bùi Văn T phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 87/2025/HNGĐ-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 87/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Lvà anh Bùi Văn T.
