TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2025/DS-ST
Ngày: 26/6/2025
V/v tranh chấp Đòi lại
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thanh Thảo
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Nhân.
- 2. Bà Trần Vĩnh Hạnh.
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Chi, Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nga, Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 375/2024/TLST- DS ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp Đòi lại Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 294/2025/QĐXXST-DS ngày 13/5/2025, giữa các đương sự :
- * Nguyên đơn: Ông Trần Huynh Đ, sinh năm 1968; nơi cư trú: A, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ - có mặt.
- * Bị đơn: Bà Trần Kim P, sinh năm 1973; ĐKTT: 280D/91B, KV Bình Phó B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở: số F đường H, KV3, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ - vắng mặt.
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
- - Ông Nguyễn Văn D; sinh năm 1974 - vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thanh K, sinh năm 1971- vắng mặt.
- Cùng nơi cư trú: 121/1 ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/6/2024 của nguyên đơn Trần Huynh Đ trong quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại phiên tòa trình bày: Ngày 05/01/2023, ông Trần Huynh Đ và bà Trần Kim P (bà P là đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thanh K theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 19, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/01/2023 tại Văn phòng C) cùng ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 20, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05 tháng 01 năm 2023 tại Văn phòng C. Ông Đ nhận chuyển nhượng 02 quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thanh K; địa chỉ 02 thửa đất tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, cụ thể như sau:
- - Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 104, tờ bản đồ số 2, diện tích 300m², thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00570 do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 04/04/2011 đứng tên Nguyễn Văn D.
- - Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 105, tờ bản đồ số 2, diện tích 6075m², thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00567 do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 04/04/2011 đứng tên Nguyễn Văn D.
Sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng ông Đ đã thanh toán đủ tiền. Ngày 15/06/2023, ông Đ đã giao cho bà Trần Kim P bản chính 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00570, số CH00567 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 20, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ký kết ngày 05 tháng 01 năm 2023 tại Văn phòng C để bà P thực hiện thủ tục sang tên cho ông Đ. Kể từ thời điểm đó đến nay đã hơn 01 năm nhưng bà P vẫn chưa thực hiện xong thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ. Ông Đ đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bà P trả lại bản chính 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00570, số CH00567 và 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 20, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05 tháng 01 năm 2023 nhưng bà P chỉ hứa hẹn mà không thực hiện. Hiện nay ông không liên lạc được với bà P nữa. Nay ông Đ yêu cầu bà Trần Kim P trả lại cho ông những giấy tờ sau:
- - 01 Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 479304, số vào sổ CH00570 do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 04/04/2011 đứng tên ông Nguyễn Văn D;
- - 01 Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 479307, số vào sổ CH00567 do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 04/04/2011 đứng tên ông Nguyễn Văn D;
- - 01 Bản chính Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Văn D, Nguyễn Thanh K và Trần Huynh Đ, số công chứng: 20, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/01/2023 tại Văn phòng C.
Phía bị đơn Trần Kim P có bản tự khai trình bày như sau: ông Đ có gửi hồ sơ sang tên đất trong một cửa, tất cả giấy tờ ông Đ đều biết. Nay bà yêu cầu ông Đ cùng bà đến bộ phận một cửa Một Ngàn để nhận lại hồ sơ.
Phần trình bày của người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
Ông D: Ngày 04/1/2023, ông D có vay tiền của bà Trần Kim P số tiền 250.000.000 đồng và thế chấp bản chính 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P bằng hình thức ký hợp đồng ủy quyền công chứng số 1124 quyển số 01/SCT/BS ngày 10/5/2023. Sau khi ký ký hợp đồng ủy quyền công chứng số 1124 quyển số 01/SCT/BS ngày 10/5/2023 với bà P thì ông D đã giao bản chính 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- - Quyền sử dụng đất thửa số 105, tờ bản đồ số 2, CH00567 được UBND huyện C cấp ngày 04/04/2011 đứng tên Nguyễn Văn D.
- - Quyền sử dụng đất thửa số 104, tờ bản đồ số 02, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00570 được UBND huyện C cấp ngày 04/04/2011 đứng tên Nguyễn Văn D.
Cả 02 phần đất đều có địa chỉ tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Việc ông Trần Huynh Đ giao bản chính 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00570, số CH00567 cho bà P thì ông và vợ ông là bà K không biết, đó là giao dịch giữa bà P và ông Đ. Đối với việc ông Trần Huynh Đ khởi kiện bà Trần Kim P đòi lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00570, số CH00567 ông D không có ý kiến gì, ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ông D sẽ tự giải quyết việc giữa ông, bà P và ông Đ. Khi nào ông D thấy quyền lợi của ông bị xâm phạm thì ông sẽ khởi kiện sau.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
+ Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đúng.
+ Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bà Trần Kim P trả lại cho ông Trần Huynh Đ những giấy tờ sau:
- - 01 Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 479304, số vào sổ CH00570 do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 04/04/2011 đứng tên ông Nguyễn Văn D;
- - 01 Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 479307, số vào sổ CH00567 do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 04/04/2011 đứng tên ông Nguyễn Văn D;
- - 01 Bản chính Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Văn D, Nguyễn Thanh K và Trần Huynh Đ, số công chứng: 20, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/01/2023 tại Văn phòng C
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Theo đơn khởi kiện ngày 21/6/2024, ông Đ khởi kiện yêu cầu bà P trả lại cho ông 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00570, số CH00567 và 01 Bản chính Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng, vì vậy đây là tranh chấp Đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị đơn Trần Kim P đăng ký hộ khẩu thường trú 280D/91B, KV Bình Phó B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân quận B theo khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 105, khoản 2 Điều 164 Bộ luật Dân sự
[2] Bị đơn Trần Kim P; người có quyền nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh K, Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn, người có quyền nghĩa vụ liên quan theo quy định pháp luật.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Trần Kim P trả 01 Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 479304, số vào sổ CH00570 do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 04/04/2011 đứng tên ông Nguyễn Văn D; 01 Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 479307, số vào sổ CH00567 do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 04/04/2011 đứng tên ông Nguyễn Văn D; 01 Bản chính Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Văn D, Nguyễn Thanh K và Trần Huynh Đ, số công chứng 20, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ký kết ngày 05/01/2023 tại Văn phòng C. Trong quá trình giải quyết Tòa án đã nhiều lần mời bị đơn đến Tòa án để tham gia hòa giải, giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng đều được tống đạt trực tiếp cho bị đơn nhưng bị đơn cố tình vắng mặt. Như vậy bị đơn đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ để xét xử vụ án theo quy định pháp luật. Xét thấy, trong bản tự khai ngày 07/3/2025, bà P tự viết và tự ký tên, đã trình bày: “A.Đệ có gửi HS sang tên đất trong 1 cửa. tất cả giấy tờ anh Đ điều biết hết. Nay tôi yêu cầu anh Đ cùng tôi vô 1 cửa 1 ngàn để nhận giấy lại HSơ 20/3/2025 vào lúc 3H. Tôi là người cam kết”. Nội dung này chứng tỏ việc ông Đ giao cho bà P bản chính 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00570, số CH00567 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 20, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ký kết ngày 05 tháng 01 năm 2023 tại Văn phòng C để bà P thực hiện thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ là có thật. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tình tiết, sự việc không cần chứng minh. Hội đồng xét xử xác định bà P có nhận bản chính 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00570, số CH00567 và bản chính Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 20, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ký kết ngày 05 tháng 01 năm 2023 tại Văn phòng C từ ông Đ. Theo quy định tại Điều 105 Bộ Luật Dân sự thì “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Tại Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “ Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[4] Tại bản tự khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn D không có yêu cầu độc lập trong vụ án này, yêu cầu Tòa án xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Trần Kim P phải chịu án phí không có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 105; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; khoản 5, khoản 7 Điều 166 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Huynh Đ. Buộc bà Trần Kim P phải trả cho ông Trần Huynh Đ: 01 Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 479304, số vào sổ CH00570 do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 04/04/2011 đứng tên ông Nguyễn Văn D; 01 Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 479307, số vào sổ CH00567 do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 04/04/2011 đứng tên ông Nguyễn Văn D; 01 Bản chính Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Văn D, Nguyễn Thanh K và Trần Huynh Đ, số công chứng 20, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ký kết ngày 05/01/2023 tại Văn phòng C.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Kim P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Ông Trần Huynh Đ được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 900.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001175 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Thanh Thảo |
Bản án số 87/2025/DS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 87/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
