trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 87/2025/DS-ST

Ngày: 30 - 9 - 2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và

hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thừa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Minh Thật
  2. Bà Lê Thị Mỹ Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Truyển Hân là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 137/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N

Địa chỉ: Số B, L, phường G, Thành phố Hà Nội (địa chỉ cũ: Số B, L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội).

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V. Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng N.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đức T - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh L1; có mặt.

- Bị đơn:

  1. Bà Thị B, sinh năm 1979; cư trú tại: Ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ (địa chỉ cũ: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang); vắng mặt.
  2. Ông Danh C, sinh năm 1979; cư trú tại: Ấp F, xã L, thành phố Cần Thơ (địa chỉ cũ: ấp F, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang); vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trịnh Hồng B1, sinh năm 1969; cư trú tại: Ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ (địa chỉ cũ: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang); có mặt.
  2. Ông Đỗ Văn M, sinh năm 1967; cư trú tại: Ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ (địa chỉ cũ: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang); vắng mặt.
  3. Ông Danh S, cư trú tại: Ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ (địa chỉ cũ: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) do ông Lê Đức T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

(1) Theo hợp đồng tín dụng số 7002-LAV-201905850 ngày 04 tháng 11 năm 2019 ký kết giữa Ngân hàng N với bà Thị B. Ngân hàng đồng ý cho bà Thị B vay số tiền vốn 140.000.000đ với các thoả thuận:

  • Giấy nhận nợ số 7002-LDS-202106382; số tiền vay 50.000.000đ; ngày vay (giải ngân) 17/11/2021; thời hạn vay 11 tháng; ngày trả nợ cuối cùng 17/10/2022; lãi suất cho vay 7,3%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 150% so với lãi suất vay đã thỏa thuận; mục đích vay: chi phí trồng lúa, nuôi heo.
  • Giấy nhận nợ số 7002-LDS-202106383; số tiền vay 90.000.000đ; ngày vay (giải ngân) 17/11/2021 ; thời hạn vay 36 tháng; ngày trả nợ cuối cùng 17/11/2024; kỳ hạn trả nợ gốc: 03 kỳ (12 tháng/lần); kỳ 1: trả gốc 1.000.000đ vào ngày 17/11/2022; kỳ 2: trả gốc 2.000.000đ vào ngày 17/11/2023; kỳ 3: trả gốc 87.000.000đ vào ngày 17/11/2024; lãi suất cho vay 8,4%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 150% so với lãi suất vay đã thỏa thuận; mục đích vay: mua sắm vật dụng gia đình.

- Tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7002-LCP-201401218/HĐTC ngày 24/10/2014 được xác lập giữa Ngân hàng N với bà Thị B, ông Danh C gồm: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BĐ 384488; số vào sổ CH00150; nơi cấp: UBND huyện L; cấp ngày 09/5/2011; diện tích: 7.505m²; địa chỉ tài sản: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (cũ) nay là ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ.

Quá trình thực hiện hợp đồng bà Thị B không trả vốn và lãi theo nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Do đó, toàn bộ khoản vay của bà Thị B đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 18/10/2022 đối với khoản vay vốn 50.000.000đ; quá hạn kể từ ngày 18/11/2022 đối với khoản vay vốn 90.000.000đ.

(2) Theo hợp đồng tín dụng số 7002-LAV-2017-00494/HĐTD ngày 10 tháng 02 năm 2017 ký kết giữa Ngân hàng N với ông Danh C. Ngân hàng đồng ý cho ông Danh C vay số tiền vốn 480.000.000đ; thỏa thuận thời hạn vay 60 tháng; ngày trả nợ cuối cùng 10/02/2022, kỳ hạn trả nợ gốc: 03 kỳ (12 tháng/lần), kỳ 1: trả gốc 5.000.000đ vào ngày 10/02/2018, kỳ 2: trả gốc 5.000.000đ vào ngày 10/02/2019, kỳ 3: trả gốc 5.000.000đ vào ngày 10/02/2020; kỳ 4: trả gốc 5.000.000đ vào ngày 10/02/2021; kỳ 5: trả gốc 460.000.000đ vào ngày 10/02/2022; lãi suất cho vay 10%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 150% so với lãi suất vay đã thỏa thuận; mục đích vay: sửa chữa, nâng cấp nhà.

- Tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số 7002-LCP201101449 ngày 23/11/2011 giữa Ngân hàng N với ông Danh C và bà Thị B gồm: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: AP 845585; số vào sổ H00233; nơi cấp: UBND huyện L; cấp ngày 30/10/2009; diện tích: 26.104 m²; địa chỉ tài sản: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (cũ) nay là ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ.

Theo phụ lục phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ, vào ngày 10/02/2022 ông Danh C có nghĩa vụ trả nợ gốc 460.000.000đ và lãi phát sinh cho Ngân hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Danh C không trả vốn và lãi theo nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Do đó, toàn bộ khoản vay của của ông Danh C đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 11/02/2022.

Tại phiên tòa, Ngân hàng N yêu cầu bà Thị B, ông Danh C phải trả các khoản tiền còn nợ phát sinh theo các hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2025, cụ thể như sau:

  • Khoản vay 50.000.000đ. Trong đó, vốn gốc 50.000.000đ, lãi trong hạn 16.300.278đ, lãi quá hạn 6.134.041đ; tổng cộng 72.434.319đ.
  • Khoản vay 90.000.000đ. Trong đó, vốn gốc 90.000.000đ, lãi trong hạn 33.582.500đ, lãi quá hạn 3.903.199đ; tổng cộng 127.485.699đ.
  • Khoản vay 480.00.000đ. Trong đó, vốn gốc 460.000.000đ, lãi trong hạn 204.700.000đ, lãi quá hạn 83.682.192đ; tổng cộng 748.382.192đ.

Đồng thời yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến ngày bà B, ông C thanh toán hết nợ cho Ngân hàng. Trường hợp không thanh toán hết nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định để Ngân hàng thu hồi nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Thị B, ông Danh C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Danh S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Hồng B1 trình bày:

Năm 2008 bà và chồng là ông Đỗ Văn M có nhận cố phần đất của vợ chồng ông Danh C và bà Thị B như sau:

Phần đất thứ nhất: Diện tích 7.500m² cố với giá là 10 chỉ vàng loại 9999, thời hạn cố là 02 năm thì chuộc lại, hai bên có làm giấy tay. Hết thời hạn ông C và bà B không chuộc lại thì vợ chồng bà tiếp tục canh tác, đến ngày 03/04/2022 (âm lịch) ông Danh C và bà Thị B không có khả năng chuộc lại đất nên chuyển nhượng cho vợ chồng bà phần đất này với giá là 55.000.000đ/1.300m², vợ chồng bà đã đưa trước 400.000.000đ (đã tính vào phần vàng cố tức ông C và bà B không còn nợ số vàng cố) và hai bên có làm tờ sang nhượng đất, nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định, hiện tại phần đất này vợ chồng bà đang canh tác.

Phần đất thứ 2: Diện tích 09 công tầm 03m cố với giá 20 chỉ vàng loại 9999, thời hạn cố là 02 năm thì chuộc lại, hai bên có làm giấy tay. Sau khi cố xong, ông Danh C và bà Thị B thuê lại canh tác, mỗi năm trả vợ chồng bà 1.800kg lúa khô, hàng năm cũng như hiện tại thì ông Danh C và bà Thị B trả đủ số lúa cho vợ chồng bà, chưa nợ lại năm nào. Hiện tại phần đất này do ông Danh C và bà Thị B đang thuê lại canh tác.

Tuy nhiên hiện nay, vợ chồng ông Danh C và bà Thị B đã thế chấp toàn bộ hai phần đất nêu trên cho Ngân hàng N và đang phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng với Ngân hàng.

Nay đối với phần đất cố 09 công tầm 03m, bà đồng ý cho ông Danh C, bà Thị B chuộc lại; yêu cầu ông Danh C, bà Thị B phải trả lại 20 chỉ vàng 24K loại 9999. Đối với phần đất chuyển nhượng diện tích 7.500m² vợ chồng bà sẽ tự thỏa thuận với vợ chồng ông Danh C, bà Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết; sau này nếu không thỏa thuận được sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn M trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu của bà Trịnh Hồng B1. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng:

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N. Buộc bà Thị B, ông Danh C phải trả cho Ngân hàng N các khoản vay còn nợ tính đến ngày 30/9/2025 tổng cộng 948.302.210đ. Trong đó, vốn gốc 600.000.000đ, lãi trong hạn 254.582.778đ, lãi quá hạn 93.719.432đ. Tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp không thanh toán được hết nợ thì xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trịnh Hồng B1. Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà Thị B, ông Danh C với bà Trịnh Hồng B1, ông Đỗ Văn M là giao dịch dân sự vô hiệu. Buộc ông Danh C, bà Thị B phải trả cho bà Trịnh Hồng B1, ông Đỗ Văn M 20 chỉ vàng 24K loại 9999. Về án phí, chi phí tố tụng, buộc đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; qua kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bà Thị B, ông Danh C trả số tiền vay còn nợ phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ.

[2] Bị đơn bà Thị B, ông Danh C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Danh S quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn M đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Bị đơn bà Thị B, ông Danh C là vợ chồng có cùng ký kết hợp đồng tín dụng vay tiền của Ngân hàng N như sau:

  • Khoản vay 50.000.000đ: Căn cứ giấy nhận nợ số 7002-LDS-202106383, ngày 17/11/2021 Ngân hàng đã giải ngân cho bà B, ông C số tiền vốn 50.000.000đ. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà B, ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán vốn và lãi theo thỏa thuận mặc dù đã được Ngân hàng Đ, nhắc nhở nhiều lần. Khoản vay này đã quá hạn từ ngày ngày 18/10/2022.
  • Khoản vay 90.000.000đ: Căn cứ giấy nhận nợ số 7002-LDS-202106383, ngày 17/11/2021 Ngân hàng đã giải ngân cho bà B, ông C số tiền vốn 90.000.000đ. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà B, ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán vốn và lãi theo thỏa thuận mặc dù đã được Ngân hàng Đ, nhắc nhở nhiều lần. Khoản vay này đã quá hạn từ ngày ngày 18/11/2022.
  • Khoản vay 480.000.000đ: Theo hợp đồng tín dụng số 7002-LAV-2017-00494/HĐTD, ngày 10/02/2017 Ngân hàng đã giải ngân cho ông C, bà B số tiền vốn 480.000.000đ. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C, bà B có trả vốn được 20.000.000đ và lãi phát sinh đến ngày 10/02/2021. Sau đó, vi phạm nghĩa vụ thanh toán vốn và lãi theo thỏa thuận mặc dù đã được Ngân hàng Đ, nhắc nhở nhiều lần. Khoản vay này đã quá hạn từ ngày ngày 11/02/2022.

[3.2] Đối với yêu cầu tính lãi của Ngân hàng, xét thấy: Theo hợp đồng tín dụng đã ký kết các bên thỏa thuận lãi suất cho từng thời điểm vay, mức lãi suất này được tự động điều chỉnh theo từng thời kỳ cho vay phù hợp với quy định pháp luật; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà B, ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu phải trả lãi theo hợp đồng đã thỏa thuận là phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

[3.3] Do bà B, ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu trả các khoản nợ phát sinh theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ chấp nhận. Buộc bà Thị B, ông Danh C phải trả cho Ngân hàng N số tiền vay còn nợ vốn gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2025 của các khoản vay; cụ thể như sau:

  • Khoản vay 50.000.000đ. Trong đó, vốn gốc 50.000.000đ, lãi trong hạn 16.300.278đ, lãi quá hạn 6.134.041đ; tổng cộng 72.434.319đ.
  • Khoản vay 90.000.000đ. Trong đó, vốn gốc 90.000.000đ, lãi trong hạn 33.582.500đ, lãi quá hạn 3.903.199đ; tổng cộng 127.485.699đ.
  • Khoản vay 480.00.000đ. Trong đó, vốn gốc 460.000.000đ, lãi trong hạn 204.700.000đ, lãi quá hạn 83.682.192đ; tổng cộng 748.382.192đ.

[3.4] Xét hợp đồng thế chấp tài sản: Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng bà Thị B, ông Danh C có ký kết với Ngân hàng hợp đồng thế chấp tài sản, cụ thể:

  • Hợp đồng thế chấp số 7002-LCP-201401218/HĐTC ngày 24/10/2014, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 7.505m² loại đất trồng lúa, thửa 2551, tờ bản đồ số 7; địa chỉ thửa đất: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (cũ) nay là ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy CH00150, do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang (cũ) cấp ngày 09/5/2011.
  • Hợp đồng thế chấp số 7002-LCP201101449 ngày 23/11/2011 tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 26.104m² loại đất trồng lúa, thửa 109, tờ bản đồ số 7; địa chỉ thửa đất: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (cũ) nay là ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy H00233, do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang (cũ) cấp ngày 30/10/2009.

Hợp đồng thế chấp tài sản được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, nhằm để đảm bảo khả năng trả nợ của bên vay cho Ngân hàng. Các bên cam kết thế chấp toàn bộ hiện trạng và giá trị đất để đảm bảo cho toàn bộ dư nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng. Hợp đồng thế chấp do chủ sở hữu ký kết xác lập, tài sản thế chấp đúng chủ sở hữu, có giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Tại thời điểm ký kết đăng ký giao dịch bảo đảm các chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có đăng ký giao dịch bảo đảm tại các cơ quan có thẩm quyền nên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có hiệu lực.

Như vậy, trong trường hợp bà B, ông C không thanh toán hết nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

[3.5] Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Hồng B1:

Ngày 04/6/2008 (âm lịch) ông Danh C, bà Thị B có cố cho ông Đỗ Văn M, bà Trịnh Hồng B1 phần đất 09 công tầm 03m với giá 20 chỉ vàng 24K loại 9999. Lúc cố hai bên có lập “Tờ giao kèo cố đất ruộng” có sự chứng kiến của ông Lâm K; hai bên thỏa thuận thời hạn chuộc lại đất là 02 năm. Sau khi nhận cố đất thì ông M, bà B1 không canh tác đất mà cho ông C, bà B thuê lại canh tác cho đến nay. Thực tế ông M, bà B1 với ông C, bà B có thực hiện giao dịch cầm cố và thuê quyền sử dụng đất. Tại thời điểm cầm cố đất thì Luật Đất đai năm 2003 đang có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại Điều 106 Luật Đất đai năm 2003 thì: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định”. Như vậy, pháp luật không cho phép người được quyền sử dụng đất thực hiện việc cầm cố nên hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông M, bà B1 với ông C, bà B là vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật. Căn cứ Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì không làm phát sinh thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập giao dịch. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Do C, bà B không giao đất cho ông M, bà B1 canh tác mà thuê lại canh tác cho đến nay. Vì vậy, yêu cầu của bà B1 buộc ông C, bà B trả số vàng cố đất 20 chỉ vàng 24K loại 9999 là có căn cứ chấp nhận.

Ngoài ra, vào năm 2008 ông Danh C, bà Thị B có cố diện tích 7.500m² đất ruộng cho ông M, bà B1 với giá là 10 chỉ vàng loại 9999, thời hạn cố là 02 năm. Hết thời hạn, ông C và bà B không chuộc lại đất, đến ngày 03/4/2022 (âm lịch) ông Danh C và bà Thị B lập hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng bà B1 phần đất này với giá 55.000.000đ/1.300m², vợ chồng bà B1 đã đưa trước 400.000.000đ, hai bên có làm tờ sang nhượng đất, nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định, hiện tại phần đất này vợ chồng bà B1 đang canh tác. Bà B1 thống nhất sẽ tự thỏa thuận với ông C, bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết trong cùng vụ án; sau này nếu không thỏa thuận được sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Do đó, tách phần thực hiện giao dịch chuyển nhượng này giữa ông M, bà B1 với ông C, bà B ra giải quyết bằng vụ án khi đương sự có yêu cầu.

[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Thị B, ông Danh C phải chịu 2.000.000đ. Ông C, bà B nộp để hoàn trả cho Ngân hàng N.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Thị B, ông Danh C phải chịu 40.449.066đ. Ngân hàng N; bà Trịnh Hồng B1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[6] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 106 Luật Đất đai năm 2003; Điều 123, 131, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
  2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Hồng B1.
  3. Buộc bà Thị B, ông Danh C có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng N số tiền vay còn nợ vốn và lãi của 03 khoản vay tổng cộng 948.302.210đ (chín trăm bốn mươi tám triệu ba trăm lẻ hai nghìn hai trăm mười đồng). Trong đó, vốn gốc 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng), lãi trong hạn 254.582.778đ (hai trăm năm mươi bốn triệu năm trăm tám mươi hai nghìn bảy trăm bảy mươi tám đồng), lãi quá hạn 93.719.432đ (chín mươi ba triệu bảy trăm mười chín nghìn bốn trăm ba mươi hai đồng). Cụ thể:
    • Khoản vay 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng): Trong đó, vốn gốc 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), lãi trong hạn 16.300.278đ (mười sáu triệu ba trăm nghìn hai trăm bảy mươi tám đồng), lãi quá hạn 6.134.041đ (sáu triệu một trăm ba mươi bốn nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng); tổng cộng 72.434.319đ (bảy mươi hai triệu bốn trăm ba mươi bốn nghìn ba trăm mười chín đồng).
    • Khoản vay 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng): Trong đó, vốn gốc 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng), lãi trong hạn 33.582.500đ (ba mươi ba triệu năm trăm tám mươi hai nghìn năm trăm đồng), lãi quá hạn 3.903.199đ (ba triệu chín trăm lẻ ba nghìn một trăm chín mươi chín đồng); tổng cộng 127.485.699đ (một trăm hai mươi bảy triệu bốn trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng).
    • Khoản vay 480.00.000đ (bốn trăm tám mươi triệu đồng): Trong đó, vốn gốc 460.000.000đ (bốn trăm sáu mươi triệu đồng), lãi trong hạn 204.700.000đ (hai trăm lẻ bốn triệu bảy trăm nghìn đồng), lãi quá hạn 83.682.192đ (tám mươi ba triệu sáu trăm tám mươi hai nghìn một trăm chín mươi hai đồng); tổng cộng 748.382.192đ (bảy trăm bốn mươi tám triệu ba trăm tám mươi hai nghìn một trăm chín mươi hai đồng).

Bà Thị B, ông Danh C phải chịu 40.449.066đ (bốn mươi triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn không trăm sáu mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng N được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.099.000đ (bốn triệu không trăm chín mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0010042 lập ngày 02/5/2024 và số tiền 14.277.480đ (mười bốn triệu hai trăm bảy mươi bảy nghìn bốn trăm tám mươi đồng) theo biên lai thu tiền số 0010041 lập ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Cần Thơ).

Bà Trịnh Hồng B1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.000.000đ (năm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0003212 lập ngày 17/9/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

  1. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  2. Trường hợp bà Thị B, ông Danh C không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp, cụ thể như sau:
    • Hợp đồng thế chấp số 7002-LCP-201401218/HĐTC ngày 24/10/2014, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 7.505m² loại đất trồng lúa, thửa 2551, tờ bản đồ số 7; địa chỉ thửa đất: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (cũ) nay là ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy CH00150, Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang (cũ) cấp ngày 09/5/2011 do ông Danh C, bà Thị B đứng tên người sử dụng đất.
    • Hợp đồng thế chấp số 7002-LCP201101449 ngày 23/11/2011 tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 26.104m² loại đất trồng lúa, thửa 109, tờ bản đồ số 7; địa chỉ thửa đất: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (cũ) nay là ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy H00233, Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang (cũ) cấp ngày 30/10/2009; do ông Danh C đứng tên người sử dụng đất.
  3. Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất xác lập ngày 04/6/2008 (âm lịch) giữa bà Trịnh Hồng B1, ông Đỗ Văn M với bà Thị B, ông Danh C là giao dịch dân sự vô hiệu.
  4. Buộc bà Thị B, ông Danh C phải trả cho bà Trịnh Hồng B1, ông Đỗ Văn M 20 (hai mươi) chỉ vàng 24K loại vàng 9999.
  5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Thị B, ông Danh C phải chịu 2.000.000đ (hai triệu đồng). Bà Thị B, ông Danh C nộp để hoàn trả cho Ngân hàng N.
  6. Về án phí:

Bà Thị B, ông Danh C phải chịu 40.449.066đ (bốn mươi triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn không trăm sáu mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng N được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.099.000đ (bốn triệu không trăm chín mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0010042 lập ngày 02/5/2024 và số tiền 14.277.480đ (mười bốn triệu hai trăm bảy mươi bảy nghìn bốn trăm tám mươi đồng) theo biên lai thu tiền số 0010041 lập ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Cần Thơ).

Bà Trịnh Hồng B1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.000.000đ (năm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0003212 lập ngày 17/9/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  2. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Minh Thật Lê Thị Mỹ L

Ngô Thừa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 87/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger