TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2025/DS-ST
Ngày 17/6/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vũ Linh.
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lư Thành Danh.
- Ông Nguyễn Vũ Hải Đăng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 312/2024/TLST-DS ngày 20/11/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 161/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hồng Chánh L, sinh năm 1963.
- Địa chỉ: A khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Hồng Nhật H, sinh năm 1995 (Văn bản uỷ quyền ngày 17/10/2024) (Có mặt).
- Địa chỉ: A khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Thế A, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
- Bà Trần Thị Cẩm G, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: P230 L tầng, Khu dân cư H, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Địa chỉ liên hệ: Số C khu dân cư H, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
1
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH B.
- Địa chỉ: Khu T, khu D, ấp G, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành L1 – Chức vụ: Giám đốc (Xin giải quyết vắng mặt).
- Ngân hàng TMCP K1.
- Địa chỉ: Số A phố B, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Quốc K (Văn bản ủy quyền số: 630-CB/2024/GUQ-TCB ngày 12/12/2024) (Có mặt).
- Địa chỉ: Tầng C, L, Số B đường V, phường A, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Đỗ Thị Ngọc L2, sinh năm 1964 (Xin giải quyết vắng mặt).
- Địa chỉ: A khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện (đề ngày 17/10/2024, bổ sung ngày 06/11/2024 của nguyên đơn Hồng Chánh L) và trong quá trình giải quyết vụ án ông Hồng Nhật H (đại diện uỷ quyền của nguyên đơn) trình bày: Do là chỗ quen biết với nhau nên ông Hồng Chánh L có cho ông Nguyễn Thế A và bà Trần Thị Cẩm G vay nhiều lần, đến ngày 24/01/2022 tổng số tiền mà ông Thế A và bà Cẩm G vay là 8.000.000.000₫ (Tám tỷ đồng), ông L có yêu cầu ông Thế A và bà Cẩm G viết “Giấy mượn tiền”, lãi suất hai bên thoả thuận là 2%/tháng và cam kết trong vòng 12 tháng sẽ hoàn trả số tiền trên cho nguyên đơn. Nhưng sau đó ông Thế A và bà G không trả số nợ đã thiếu cho ông L, cố tình trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay.
Do đó, ông L yêu cầu buộc ông Nguyễn Thế A, bà Trần Thị Cẩm G trả tổng số tiền là 10.763.105.022đ (Mười tỷ bảy trăm sáu mươi ba triệu một trăm lẻ năm nghìn không trăm hai mươi hai đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 8.000.000.000₫ và số tiền lãi là 2.763.105.022đ (tạm tính đến ngày 16/10/2024); Yêu cầu ông Thế A và bà G tiếp tục trả lãi cho đến khi trả dứt nợ, về lãi suất yêu cầu tính theo quy định của pháp luật là 20%/năm. Trường hợp ông Thế A, bà G không có khả năng thanh toán, ông L yêu cầu được nhận toàn bộ tài sản thế chấp là căn Shop SA-09-07 tại Dự án khu Du lịch và biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp G1 (địa chỉ: Khu D, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang) do Công ty Trách nhiệm hữu hạn B làm chủ đầu tư. Yêu cầu ông Thế A, bà G có trách nhiệm tất toán khoản nợ vay với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 để giải chấp tài sản trên giao lại cho ông L; đến ngày 07/4/2025, ông L rút yêu cầu này.
* Phần trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
+ Ông Nguyễn Quốc K (đại diện ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1) trình bày: Đối với yêu cầu của nguyên đơn phía Ngân hàng không có ý kiến. Riêng đối với yêu cầu của ông L về việc nhận toàn bộ tài sản thế chấp là căn Shop SA-09-07 tại Dự án khu Du lịch và biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp GRAND WORD, đối với tài sản này hiện ông Thế A và bà G đang thế chấp để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng. Đến ngày 15/12/2023, chủ đầu tư và khách hàng đã thoả thuận chấm dứt hợp đồng mua bán căn Shop trên và chủ đầu tư hứa sẽ trả cho ông Thế A, bà G số tiền 8.116.428.434đ (Tám tỷ một trăm mười sáu triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn bốn trăm ba mươi bốn đồng). Sau đó, chủ đầu tư có văn bản về việc thanh toán thành nhiều đợt và thời gian thanh toán cuối cùng là ngày 26/8/2026, số tiền sẽ được chuyển vào tài khoản của ông Thế A tại Ngân hàng T để thu nợ. Do đó, đối với yêu cầu trên của ông L liên quan đến tài sản thế chấp thì Ngân hàng không có ý kiến và tài sản đã được khách hàng và chủ đầu tư thanh lý.
+ Công ty Trách nhiệm hữu hạn B trình bày: Trước đây ngày 11/01/2019, ông Nguyễn Thế A và Công ty B có ký kết Hợp đồng mua bán công trình dịch vụ du lịch số SA-09-07/GRAND WORLD/HĐMBCTDVDL đối với căn Shop SA-09-07 tại dự án Khu D, tổng giá trị là 11.735.663.815đ (Mười một tỷ bảy trăm ba mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn tám trăm mười lăm đồng). Ngày 07/02/2020, giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 và ông Thế A và bà G đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản theo đó đã thế chấp tài sản đảm bảo là quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán bất động sản.
Ngày 15/12/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 với Công ty B và ông Thế A, bà G đã thống nhất ký Thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng mua bán trên, theo đó Công ty B sẽ hoàn trả cho ông Thế A, bà G số tiền 7.582.506.051₫ (Bảy tỷ năm trăm tám mươi hai triệu năm trăm lẻ sáu nghìn không trăm năm mươi mốt đồng) theo tiến độ do các bên thoả thuận, hiện nay Công ty B đã thanh toán được số tiền 3.282.981.017₫ (Ba tỷ hai trăm tám mươi hai triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn không trăm mười bảy đồng) và vẫn đang tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo nội dung đã thoả thuận. Đối với yêu cầu của nguyên đơn ông L xin nhận tài sản là căn Shop SA-09-07 tại dự án Khu D là không có căn cứ và phù hợp nên phía Công ty B không đồng ý.
Có mặt tại phiên tòa sơ thẩm, ông Hồng Nhật H (đại diện ủy quyền của nguyên đơn) vẫn giữ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồng Chánh L yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thế A và bà Trần Thị Cẩm G liên đới trả số tiền nợ gốc là 8.000.000.000đ và số tiền lãi từ ngày 25/01/2023 cho đến khi xét xử sơ thẩm với mức lãi suất là 20%/năm. Ông Nguyễn Quốc K (đại diện ủy quyền của
3
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1) do phía nguyên đơn ông L rút yêu cầu liên quan đến việc xin nhận tài sản là căn Shop SA-09-07 tại Dự án khu Du lịch và biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp G1 (địa chỉ: Khu D, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang) nên phía Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu còn lại của ông L theo quy định của pháp luật.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, cũng như tại phiên tòa hôm nay: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục tố tụng. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý giải quyết đúng quy định; Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải, thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật; thời hạn xét xử đúng quy định; không phát hiện vi phạm.
- Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 đúng quy định; đối với bị đơn ông Nguyễn Thế A và bà Trần Thị Cẩm G đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định. Riêng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn B và bà Đỗ Thị Ngọc L2 có yêu cầu giải quyết vắng mặt, xét đây là quyền của đương sự nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do việc vay mượn nợ giữa hai bên đương sự có lập thành văn bản, cụ thể theo Giấy mượn tiền ngày 24/01/2022 thể hiện bị đơn ông Thế A và bà G có mượn số tiền 8.000.000.000₫ (Tám tỷ đồng) của ông L và cam kết trong thời gian 12 tháng có nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã mượn cho ông L. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện nguyên đơn có cung cấp bản gốc giấy mượn tiền có chữ ký và xác nhận nhận tiền của bị đơn.
- Mặt khác, tại văn bản ý kiến ngày 07/01/2025 của bị đơn ông Nguyễn Thế A thừa nhận hiện chưa trả được số tiền nợ gốc và lãi cho nguyên đơn và thống nhất trả số tiền nợ gốc và lãi cho ông L. Cho nên, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn ông Thế A và bà G có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ gốc 8.000.000.000₫ (Tám tỷ đồng) và lãi suất từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 25/01/2023 cho đến khi xét xử sơ thẩm cho nguyên đơn.
- Đối với yêu cầu của ông L về việc nhận tài sản là căn Shop SA-09-07 tại Dự án khu Du lịch và biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp G1 (địa chỉ: Khu D, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang), ngày 07/4/2025 nguyên đơn ông L đã tự nguyện rút lại yêu cầu này nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ theo quy định.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Hồng Chánh L cho rằng trước đây quen biết nên có cho ông Nguyễn Thế A và bà Trần Thị Cẩm G vay số tiền gốc là 8.000.000.000đ (Tám tỷ đồng) vào ngày 24/01/2022, theo đó ông Thế A và bà G cam kết đến ngày 24/01/2023 sẽ hoàn trả số tiền trên, tuy nhiên sau đó phía bị đơn không thực hiện đúng nội dung thỏa thuận, cố tình trốn tránh không trả số nợ còn thiếu, nên ông khởi kiện yêu cầu ông Thế A và bà G có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc còn lại và lãi suất 1,66%/tháng. Quan hệ trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, vụ việc được Tòa án nhân dân quận Cái Răng thụ lý, giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn ông Nguyễn Thế A và bà Trần Thị Cẩm G đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Riêng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn B và bà Đỗ Thị Ngọc L2 có yêu cầu giải quyết vắng mặt, xét đây là quyền của đương sự và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu của các đương sự:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Hồng Chánh L yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thế A và bà Trần Thị Cẩm G trả số tiền gốc 8.000.000.000đ (Tám tỷ đồng), Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn ông Hồng Chánh L cho rằng trước đây thông qua quan hệ quen biết nên có cho ông Nguyễn Thế A và bà Trần Thị Cẩm G vay số tiền nợ gốc 8.000.000.000đ (Tám tỷ đồng) vào ngày 24/01/2022, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, ông L có xuất trình Biên nhận nhận tiền ngày 24/01/2022 (bản gốc) (BL 201). Theo nội dung văn bản này hai bên thoả thuận thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất 2%/tháng, tức đến ngày 24/01/2023 ông Thế A và bà G có nghĩa vụ hoàn trả số tiền nợ gốc và lãi cho ông L. Đồng thời, tại Giấy mượn tiền này phía ông Thế A và bà Cẩm G xác nhận bằng chữ viết tay “Đã nhận đủ số tiền trên …” của bên cho mượn tiền là ông Hồng Chánh L.
5
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án tại Văn bản trình bày ý kiến (đề ngày 07/01/2025) bị đơn ông Nguyễn Thế A thừa nhận trước đây vào ngày 24/01/2022 có mượn số tiền 8.000.000.000đ (Tám tỷ đồng) của ông L, “...Nay biết tin ông L khởi kiện vợ chồng chúng tôi tại Tòa án với yêu cầu chúng tôi thanh toán nợ vay và tiền lãi. Vợ chồng chúng tôi chấp nhận thanh toán tiền nợ cho ông L và lãi theo yêu cầu khởi kiện của ông L...” (BL 58), theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”, theo quy định của pháp luật vừa viện dẫn thì đây là tình tiết không phải chứng minh.
Như vậy, có căn cứ xác định bị đơn ông Thế A và bà G vào ngày 24/01/2022 có vay số tiền 8.000.000.000đ (Tám tỷ đồng) của ông L, cho đến nay chưa trả được số nợ này cho nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình thực hiện nội dung hợp đồng vay đã ký, phía bị đơn ông Thế A và bà G đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm nội dung thoả thuận của các bên, cụ thể theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...”. Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương khai cho đến thời điểm hiện tại ông Thế A, bà G không trả nợ gốc và đóng lãi cho ông L theo đúng nội dung thỏa thuận của giấy mượn tiền. Cho nên, buộc bị đơn ông Thế A và bà G có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ gốc 8.000.000.000đ (Tám tỷ đồng) cho nguyên đơn ông Hồng Chánh L là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồng Chánh L buộc bị đơn ông Nguyễn Thế A và bà Trần Thị Cẩm G có nghĩa vụ trả lãi với mức lãi suất là 1,66%/tháng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và có mặt tại phiên toà sơ thẩm ông Hồng Nhật H (đại diện ủy quyền của nguyên đơn) yêu cầu bị đơn ông Thế A và bà G có nghĩa vụ trả lãi theo mức lãi suất là 1,66%/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy, việc vay mượn nợ giữa nguyên đơn ông L với bị đơn ông Thế A, bà G giữa hai bên có thoả thuận lãi suất, cụ thể theo Giấy mượn tiền ngày 24/01/2022 thể hiện bên vay ông Thế A và bà G có nghĩa vụ trả lãi với mức lãi suất là 2%/tháng cho ông L, tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 07/01/2025 ông Thế A thừa nhận và thống nhất có nghĩa vụ trả lãi đối với số tiền vay cho nguyên đơn ông L. Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “...Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thảo thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay...”, theo quy định
6
của pháp luật vừa viện dẫn thì đối với giao dịch vay mượn tiền trên giữa ông L với ông thế A, bà G thuộc trường hợp có thỏa thuận lãi suất với nhau và mức lãi suất được điều chỉnh là 20%/năm, tương ứng là 1,66%/tháng; việc phía nguyên đơn ông L thống nhất chỉ yêu cầu ông Thế A và bà G trả lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng và tính từ ngày 25/01/2023 cho đến khi xét xử sơ thẩm, không yêu cầu bị đơn trả lãi trong khoản thời gian từ ngày 24/01/2022 đến ngày 24/01/2023 là có lợi cho bị đơn và phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Như vậy, số tiền lãi bị đơn ông Thế A, bà G trả cho ông L đến khi xét xử sơ thẩm là 28 tháng 23 ngày, số tiền lãi là: (8.000.000.000₫ X 1,66%/tháng X 28 tháng 23 ngày) = 3.820.211.800₫ (Ba tỷ tám trăm hai mươi triệu hai trăm mười một nghìn tám trăm đồng).
Tổng số tiền gốc và lãi bị đơn ông Thế A và bà G có nghĩa vụ trả cho ông L là: 8.000.000.000đ + 3.820.211.800₫ = 11.820.211.800₫ (Mười một tỷ tám trăm hai mươi triệu hai trăm mười một nghìn tám trăm đồng).
[3.2] Theo đơn khởi kiện nguyên đơn ông L còn có yêu cầu được nhận tài sản là căn Shop SA-09-07 tại Dự án khu Du lịch và biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp G1 (địa chỉ: Khu D, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang) do Công ty Trách nhiệm hữu hạn B làm chủ đầu tư, yêu cầu ông Nguyễn Thế A, bà Trần Thị Cẩm G có trách nhiệm tất toán khoản nợ vay với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 để giải chấp tài sản trên giao lại cho ông Hồng Chánh L. Tuy nhiên, ngày 07/4/2025 ông L có đơn tự nguyện rút yêu cầu này. Có mặt tại phiên tòa sơ thẩm, ông Hồng Nhật H (đại diện ủy quyền của ông L) thừa nhận ông L tự nguyện xin rút lại yêu cầu trên, xét đây là quyền của đương sự và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này của ông L.
Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phía dân sự sơ thẩm:
Đối với nguyên đơn ông Hồng Chánh L thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí nên đã được miễn phần tạm ứng án phí theo quy định.
Bị đơn ông Nguyễn Thế A và bà Trần Thị Cẩm G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 119.820.200đ (Một trăm mười chín triệu tám trăm hai mươi nghìn hai trăm đồng).
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
7
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, các Điều 147, 217, 235, 264, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 463, 464, 465, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồng Chánh L.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Hồng Chánh L về việc yêu cầu được nhận toàn bộ tài sản là căn Shop SA-09-07 tại Dự án khu Du lịch và biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp G1 (địa chỉ: Khu D, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang) do Công ty Trách nhiệm hữu hạn B làm chủ đầu tư.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Đối với nguyên đơn ông Hồng Chánh L thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí nên đã được miễn phần tạm ứng án phí theo quy định.
- Bị đơn ông Nguyễn Thế A và bà Trần Thị Cẩm G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 119.820.200đ (Một trăm mười chín triệu tám trăm hai mươi nghìn hai trăm đồng).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với các đương sự vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm theo quy định.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Thế A và bà Trần Thị Cẩm G có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn ông Hồng Chánh L tổng số tiền là 11.820.211.800₫ (Mười một tỷ tám trăm hai mươi triệu hai trăm mười một nghìn tám trăm đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 8.000.000.000đ và số tiền lãi là 3.820.211.800₫
Kể từ ngày nguyên đơn ông Hồng Chánh L có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn ông Nguyễn Thế A và bà Trần Thị Cẩm G chưa thi hành thì còn có nghĩa vụ trả lãi chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật
8
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Vũ Linh |
9
Bản án số 87/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 87/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
