|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2025/DS-ST Ngày: 11 – 3 – 2025 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Quang Minh
- Ông Duyên Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa:
Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa:
Ông Trương Hoàng Lo – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 771/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm: 1959 (có mặt).
- Địa chỉ: Ấp Ô, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Hồng C, sinh năm 1961 (có mặt).
- 2. Bà Trương Thị M, sinh năm: 1962 (xin vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hồng Q trình bày: Về nguồn gốc đất trước đây mẹ ông là bà Tô Thị H cho ông một phần đất diện tích 02 công tầm lớn, đất tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Năm 1994 ông có cố cho ông Võ Minh Đ 02 công đất này bằng 2,5 chỉ vàng 24 kara, 02 công còn lại ông để lại cho ông Nguyễn Việt M1 canh tác. Năm 1991 ông C có trao đổi với ông Đ để chuộc lại đất và canh tác việc này ông không hay biết. Năm 2017 ông có gặp ông C để thỏa thuận bán phần đất này thì ông C nói không có tiền mua. Năm 2021 ông có thỏa thuận với ông C để lấy lại đất thì ông C nói đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) nên không đồng ý giao lại. Nay ông yêu cầu ông C, bà M trả lại ông phần đất có diện tích 2.592m², đất tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, ngoài ra ông không yêu cầu gì khác.
- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Hồng C và bà Trương Thị M cùng thống nhất trình bày: Trước đây mẹ ông C có nói cho 04 anh em ông là Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Hồng Q, Nguyễn Hồng C, Nguyễn Việt M1 mỗi người 04 công đất (công tầm 03m) nhưng chưa có tách sổ, nhưng ông Q lúc đó ở U không về nhận đất nên mẹ ông cho ông bao nhiêu thì ông lấy bấy nhiêu. Trước đây ông Q có cố đất cho ông Đ, mẹ ông kêu ông chuộc lại và cùng canh tác, hai năm sau thì mới tách GCNQSDĐ. Vợ chồng ông canh tác phần đất được cho từ năm 2001 cho đến nay không tranh chấp và được cấp GCNQSDĐ nên ông không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa,
Ông Q xác định phần đất khi đo đạc diện tích 3.719,0m² nhưng ông chỉ yêu cầu 2.592m², ông thống nhất với bãn vẽ và chứng thư thẩm định giá. Trước đây có thỏa thuận ông sẽ giao lại 02 công phần đất tranh chấp cho ông C và ông C giao cho ông 02 lượng vàng 24 kara (mỗi công 01 lượng vàng 24 kara) nhưng không thỏa thuận được và phát sinh tranh chấp. Nay ông chỉ yêu cầu ông C giao trả cho ông 01 lượng 07 chỉ vàng 24 kara sau khi trừ 02 chỉ 05 phân vàng 24 kara ông C đã bỏ ra để chuộc đất (thực tế sau khi đối trừ còn lại 01 lượng 07 chỉ 05 phân vàng 24 kara nhưng ông Q chỉ yêu cầu 01 lượng 07 chỉ vàng 24 kara, nhận tiền theo giá vàng tại thời điểm xét xử), đồng ý giao lại phần đất cho ông C tiếp tục quản lý, sử dụng.
Ông C xác định phần đất tranh chấp ông được mẹ ông cho, cho bao nhiêu thì ông sử dụng bấy nhiêu, hiện đã được cấp GCNQSDĐ và sử dụng ổn định nên không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn. Ông thống nhất với bãn vẽ và chứng thư thẩm định giá, ông xác định đất tranh chấp là tài sản của vợ chồng ông, không liên quan đến ai khác.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự là đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Hồng C và bà Trương Thị M cùng có trách nhiệm trả cho ông Quân số tiền 149.770.000 đồng. Ông C, bà M được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Hồng C. Về chi phí tố tụng, án phí đương sự chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
- - Về thẩm quyền: Bị đơn có nơi cư trú tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nội dung tranh chấp là quyền sử dụng đất nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về vắng mặt đương sự: Bị đơn là bà Trương Thị M có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Áp dụng khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà M là đúng quy định.
- Về nội dung: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Phần đất của các đương sự tranh chấp theo đo đạc thực tế có diện tích 3.719,0m², hiện trạng là đất trồng lúa, ông C sử dụng để trồng lúa, tọa lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, theo bản vẽ hiện trạng ngày 18/7/2024 của Công ty TNHH MTV T1.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Phần đất tranh chấp được các đương sự xác định nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Nguyễn Hồng C xin cấp GCNQSDĐ vào ngày 20/12/2000, đến ngày 23/4/2001 Ủy ban nhân dân huyện T cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Hồng C với diện tích 11.000m², đất tọa lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, thửa đất số 625, tờ bản đồ số 10. Xét về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất: Ông Q và ông C cùng thống nhất của mẹ hai ông là bà Tô Thị H (chết năm 2015), vào khoảng năm 1984, bà H có nói miệng là cho 04 người con gồm: Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Hồng Q, Nguyễn Hồng C, Nguyễn Việt M1 mỗi người 04 công đất (công tầm 03m) nhưng chưa có tách GCNQSDĐ và sau đó mỗi người đều nhận đât và canh tác. Sau khi nhận đất thì khoảng 2 đến 3 năm sau thì ông C về U sinh sống, phần đất ông C được chia thì giao lại cho ông Q canh tác, khi ông C về thì ông Q giao lại đất cho ông C. Sau khi nhận đất 3 đến 4 năm thì ông Q cũng về U sinh sống, trước khi đi ông Q có cầm cố cho ông Võ Minh Đ 02 công đất này bằng 2,5 chỉ vàng 24 kara, điều này được ông C thừa nhận. Năm 2000, bà H có kêu các con về để làm thủ tục tách QSDĐ khi đó ông Q không về nên ông C chuộc lại đất của ông Q đã cầm cố cho ông Đ và làm thủ tục để được cấp GCNQSDĐ. Đây là những tình tiết, sự kiện được các đương sự thừa nhận nên không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông C cho rằng việc chuộc đất là do mẹ ông kêu ông chuộc và bà H có gọi điện kêu ông Q về nhưng không có tài liệu gì chứng minh trong khi ông Q xác định việc ông C chuộc lại đất chưa có sự đồng ý của ông và ông không hay biết. Việc cầm cố đất ông Q có cung cấp xác nhận của ông Đ và được ông C thừa nhận. Như vậy, có căn cứ xác định phần đất tranh chấp là của bà H cho ông Q, được ông C thừa nhận và hiện nay nằm trong GCNQSDĐ do ông C đứng tên, ông C tự đứng ra chuộc lại đất và không được sự đồng ý của ông Q nên yêu cầu khởi kiện của ông Q là có căn cứ nên được chấp nhận.
- Tại phiên tòa, ông Q thay đổi yêu cầu khởi kiện, ông Q tự nguyện nhận giá trị đất tương đương với 01 lượng 07 chỉ vàng 24 kara (sau khi trừ 02 chỉ 05 phân vàng 24 kara ông C đã bỏ ra để chuộc đất), giá vàng tại thời điểm xét xử là 8.810.000đ/chỉ bằng số tiền 149.770.000 đồng, giao phần đất cho ông C tiếp tục quản lý, sử dụng. Thấy rằng, yêu cầu của ông Q là phù hợp và yêu cầu này thấp hơn giá trị phần đất ông Q yêu cầu theo thẩm định giá (2.592m²x80.000đ/m² = 207.360.000đ), yêu cầu này có lợi cho bị đơn. Hơn nữa, phần đất tranh chấp hiện nay ông C đang canh tác trồng lúa ổn định, ông Q đồng ý nhận số tiền 149.770.000 đồng là phù hợp nên được chấp nhận.
- Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T là phù hợp nên được chấp nhận.
- Đối với chi phí tố tụng: Chi phí bản vẽ 8.760.000 đồng, chi phí thẩm định giá 9.000.000 đồng, tổng cộng 17.760.000 đồng, chi phí này ông Q đã dự nộp. Do yêu cầu của ông Q được chấp nhận nên ông C, bà M phải chịu chi phí này theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, ông Q tự nguyện chịu 1/2 chi phí này nên buộc ông C, bà M trả lại cho ông Quân số tiền 8.880.000 đồng.
- Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch 7.488.500 đồng (tại phiên tòa có yêu cầu xin miễn án phí do người cao tuổi nên được miễn nộp). Nguyên đơn không phải chịu án phí, đã được miễn nộp do cao tuổi nên không hoàn lại là phù hợp theo quy định tại Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 236 Luật đất đai; Điều 166 của Bộ luật dân sự.
- - Căn cứ Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng Q– Buộc ông Nguyễn Hồng C và bà Trương Thị M cùng có trách nhiệm trả cho ông Quân số tiền 149.770.000 đồng (một trăm bốn mươi chín triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng). Ông C, bà M được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Hồng C.
- Buộc ông Nguyễn Hồng C và bà Trương Thị M phải hoàn trả cho ông Nguyễn Hồng Q số tiền 8.880.000 đồng (tám triệu tám trăm tám chục nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn được miễn nộp do người cao tuổi. Nguyên đơn không phải chịu án phí, đã được miễn nộp do cao tuổi nên không hoàn lại.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 12/01/2024 của Công ty TNHH MTV T1).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành xong khoản tiền trên, thì người phải thi hành án phải trả thêm khoản lãi theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Đ1 |
Bản án số 87/2025/DS-ST ngày 11/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 87/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
