|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2025/DS-PT
Ngày 26 - 5 - 2025
Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nghĩa;
Ông Nguyễn Xuân Trọng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS- ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 119/20254QĐ-PT ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1964
Nơi cư trú: Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Khánh H, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Văn phòng Luật sư Đ, tổ dân phố Đ, thị trấn V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt). -
Bị đơn: Ông Lê Văn Y, sinh năm 1973
Nơi cư trú: Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1995; nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện V, Vĩnh Phúc, (có mặt). -
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Bà Phạm Thị K, sinh năm 1957
Nơi cư trú: Khu A, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. -
Ông Phạm Văn K1, sinh năm 1971
Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà K và ông K1: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1964; nơi cư trú: thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt) -
Bà Phạm Thị L, sinh năm 1963
Nơi cư trú: Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Nguyễn Khánh H, sinh năm 1983; Địa chỉ: Văn phòng Luật sư Đ, tổ dân phố Đ, thị trấn V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt); Ông Phạm Văn T, sinh năm 1964; nơi cư trú: thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt). -
Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1975.
Nơi cư trú: thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
Người đại diện theo ủy quyền của bà H2: Ông Lê Văn Y, sinh năm 1973; Nơi cư trú: thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
-
Bà Phạm Thị K, sinh năm 1957
- Người kháng cáo: Ông Lê Văn Y- Bị đơn.
- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 7 năm 2023, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Văn T và người đại diện hợp pháp trình bày:
Bố ông Phạm Văn T là cụ Phạm Văn Đ (sinh năm 1929, chết năm 2007) và mẹ ông T là cụ Lê Thị S (sinh năm 1927, chết năm 1998) sinh được 04 người con gồm: Phạm Thị K, Phạm Thị L, Phạm Văn K1 và ông Phạm Văn T.
Gia đình ông T là chủ sử dụng thửa đất số 18.8, tờ bản đồ số 01, diện tích 240m2, địa chỉ tại: thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, tên chủ sử dụng trong hồ sơ địa chính là cụ Lê Thị S. Thửa đất trên thuộc quỹ đất Rau Xanh, được nhà nước chia cho gia đình từ những năm 1986; đến năm 1993 chia lại ruộng đất thì nhà nước vẫn chia cho gia đình ông T. Trong khoảng thời gian này, gia đình đã sản suất, canh tác thửa ruộng ổn định, phù hợp với quy định của pháp luật, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ cho Hợp tác xã và UBND xã A (gia đình ông T trồng cây Mía – để sản suất Mật bán ra thị trường). Khoảng những năm 1994, nhân dân trong khu vực đã khai thác đất của các thửa ruộng tại khu vực này để sản suất, đốt Gạch và gia đình ông cũng khai thác đất để đốt gạch. Đến những năm 1996, 1997 thì nhà nước cấm, không cho khai thác đất và đốt G tự phát nữa nên gia đình đã dừng việc đào bới, khai thác đất. Tại thời điểm này, thửa ruộng đã bị đào bới đất, nên tạo thành các thùng, hố, rất khó khăn cho việc sử dụng để trồng các loại cây lương thực hay rau xanh.
Cũng trong năm 1997 thì cụ Lê Thị S và chị Phạm Thị L đã cho gia đình ông Lê Văn Y mượn toàn bộ thửa ruộng nêu trên để sản suất. Ông Y đã san gạt một phần các thùng, hố; phần còn lại do mưa gió, thời gian bồi đắp nên thửa ruộng trở nên bằng phẳng, có thể sử dụng để trồng các loại cây, và gia đình ông Y đã trồng một số cây Xoan, cây Chuối trên đất.
Đến năm 2017 thì ông Lê Văn Y xây dựng 1 số công trình chăn nuôi Bò trên diện tích đất của các thửa ruộng liền kề với thửa 18.8 nêu trên, trong đó có một phần Máng (dùng làm chứa thức ăn cho B) đã xây lấn vào thửa 18.8 của gia đình ông T. Thấy vậy, sợ để lâu sinh chuyện nên ông T sang nói với ông Y về việc không được xây các công trình trên thửa ruộng, đồng thời thông báo về việc gia đình ông Y phải thu dọn cây cối trên đất để trả lại ruộng cho gia đình ông T nhưng ông Y cho rằng đã mua bán với gia đình nhà ông T nên không đồng ý trả lại. Ông đã làm đơn khiếu nại gửi UBND xã A yêu cầu giải quyết trả ruộng cho gia đình nhưng không có kết quả.
Đối với nội dung ông Y cho rằng đã mua bán thửa ruộng nêu trên: Khi còn sống cụ S không nói với các anh em của ông về việc đã bán ruộng cho ông Y; bản thân ông và các thành viên trong gia đình cũng không ai thực hiện giao dịch mua bán ruộng với ông Y.
Đối với nội dung ông Y cho rằng: Ông Y đã có công trong việc san lấp các thùng, hố trên thửa ruộng; hiện có trồng một số cây chuối, cây xoan trên đất. Nếu phải trả lại đất ruộng, thì ông Y yêu cầu thanh toán công sức và giá trị tài sản là 40.000.000đ, ông T đồng ý thanh toán.
Tại phiên tòa, ông T đề nghị:
- - Buộc ông Lê Văn Y và vợ là bà Phạm Thị H2 phải trả lại cho ông T và các anh chị em trong gia đình ông (Phạm thị K, Phạm Văn K1, Phạm Thị L) thửa ruộng 18.8, tờ bản đồ 01, diện tích 240m² tại thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- - Giao cho ông T và các anh em sử dụng, sở hữu toàn bộ tài sản trên đất. Ông T tự nguyện thanh toán, trả cho vợ chồng ông Y 40.000.000₫.
- - Về chi phí tố tụng: Ông T đã nộp chi phí tạm ứng cho việc xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Ông tự nguyện chịu nộp, không yêu cầu giải quyết trong vụ án.
- - Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định. Đối với số tiền phải thanh toán trị giá tài sản cho bị đơn, ông tự nguyện chịu án phí.
Bị đơn là ông Lê Văn Y và người đại diện hợp pháp trình bày:
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất tranh chấp:
Ông Lê Văn Y và vợ là bà Phạm Thị H2 cùng có địa chỉ thường trú tại Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vào năm 1995, gia đình ông Y muốn làm lò gạch để bán cho các gia đình trong vùng lân cận, qua một số thông tin trong làng, gia đình ông Y được biết vợ chồng ông Phạm Văn Đ và bà Lê Thị S có mảnh đất ruộng trồng màu diện tích 240m² muốn chuyển nhượng. Nhận thấy mảnh đất đó có loại đất phù hợp cho đóng gạch và gần sát nhà ở thuận tiện cho công việc và sinh hoạt hằng ngày nên vợ chồng ông Y đã đến nhà ông Đ bà S hỏi mua.
Sau khi vợ chồng ông Y đến nhà trao đổi với ông Phạm Văn Đ, bà Lê Thị S và ông Phạm Văn T (là con trai của ông bà Sành Đ1) thì ông Đ1 và bà S, ông T đã đồng ý chuyển nhượng vĩnh viễn cho vợ chồng ông Y thửa đất ruộng nêu trên với giá là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng chẵn). Sau đó, vợ chồng ông Y đã thanh toán đầy đủ số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng chẵn) cho ông Phạm Văn Đ, bà Lê Thị S và ông Phạm Văn T có sự chứng kiến của ông Lê Văn H3 (sinh năm 1970, địa chỉ thường trú tại thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc). Do tin tưởng người dân người làng và tại thời điểm đó việc chuyển nhượng đất nông nghiệp tại địa phượng được diễn ra bằng lời nói, do vậy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao tiền cho ông Phạm Văn Đ, bà Lê Thị S và ông Phạm Văn T và vợ chồng ông Y không được lập bằng văn bản. Bên cạnh thửa đất của gia đình ông Đ bà S, vợ chồng ông Y còn mua thêm 96m² đất trồng màu của gia đình ông S1, tổng diện tích hai miếng gộp lại là 336m².
Ngay sau khi nhận chuyển nhượng đất từ gia đình ông bà Đôi S2, vợ chồng ông Y đã đào đất tại thửa đất nêu trên để làm gạch và có đặt 01 lò gạch ở một phần của thửa đất để tiện cho việc nung gạch. Đến năm 1997, tuân thủ theo chính sách của nhà nước về việc tháo dỡ các lò gạch trên địa bàn dân cư, gia đình ông Y không làm gạch nữa. Đến năm 2000, vợ chồng ông Y dỡ lò gạch và san lấp đất để trồng chuối. Việc lấp đất được vợ chồng ông Y san lấp trong một khoảng thời gian rất lâu mới được bằng phẳng như hiện nay. Phần phía sau thửa đất vẫn là phần đất trũng sâu, nước chảy mưa tràn đọng thành ao, vợ chồng ông Y dùng để thả cá.
Khoảng năm 2001, theo chính sách của Nhà nước và nhận được thông báo của UBND xã A về việc thông báo người dân lên UBND xã làm thủ tục kê khai và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vợ ông Y là bà Phạm Thị H2 đã đại diện gia định đi kê khai đối với các phần diện tích đất mà gia đình ông Y đang quản lý sử dụng (bao gồm cả đất thổ cư, đất ruộng). Vợ ông Y đến UBND xã A thì có gặp ông Phạm Văn T cũng đi kê khai, ông T còn chủ động gọi vợ ông Y là bà H2 đến và nói “Gia đình tao bản đất cho mày vĩnh viễn rồi thì giờ chuyển sang bìa đỏ cho nhà mày đóng thuế”. Hơn nữa, tại thời điểm đó, ông T và vợ ông Y còn có ký Giấy tờ theo hướng dẫn của UBND xã A để chuyển tên người đóng thuế thửa đất nêu trên sang cho gia đình ông Y đóng thuế cho phù hợp với việc chuyển nhượng đất trước đó. Khi vợ ông Y và ông T trao đổi và ký giấy tờ được bà Lê Thị T1 (sinh năm 1968, địa chỉ: K, A, V Vĩnh Phúc - là người đi kê khai cùng với vợ ông Y) chứng kiến toàn bộ. Sau khi kê khai và đóng thuế, ngày 02/03/2001 gia đình ông Y đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N699498, chủ sử dụng đất là Hộ ông Lê Văn Y, diện tích sử dụng là 336m².
Từ năm 2013 đến nay, gia đình ông Y có dựng cọc làm một lán chuồng bò trên đất để chăn nuôi bò, một phần đất thì trồng chuối, phần ao còn lại thì làm hồ chứa nước thải, phân bò.
Sau nhi nhận chuyển nhượng từ năm 1995 đến nay, gia đình ông Y vẫn sử dụng công khai, ổn định lâu dài thửa đất nêu trên và không có tranh chấp với bất kỳ ai. Việc sử dụng ổn định nêu trên được đông đảo bà con hàng xóm chứng kiến và hơn hết, gia đình chúng ông Y đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ghi nhận việc quản lý sử dụng thửa đất mà ông T đang cho rằng gia đình ông Y lần chiếm, xây dựng trái phép trên đất của gia đình ông vào khoảng năm 2017 là hoàn toàn không có căn cứ.
Về quan điểm và yêu cầu của bị đơn:
- - Đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Trường hợp nếu phải trả lại ruộng cho gia đình ông T, thì ông Y yêu cầu ông T phải thanh toán, trả cho vợ chồng ông số tiền 100.000.000₫ (tiền chi phí san lấp hố trên thửa ruộng và trị giá cây cối, tài sản trên đất).
- - Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị H2 trình bày: Phù hợp với nội dung và quan điểm của ông Y (chồng bà); bà cũng đã có quan điểm về việc ủy quyền cho chồng là ông Y tham gia tố tụng giải quyết toàn bộ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của ông Y để giải quyết vụ án.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị K, bà Phạm Thị L, ông Phạm Văn K1 là anh chị em ruột của ông T; đã ủy quyền cho ông T tham gia tố tụng. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quan điểm, lời trình bày của ông T để giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS- ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã quyết định:
Căn cứ vào: Điều 163; Điều 164; Điều 166; Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015. Điều 166, Điều 179 Luật đất đai 2003. Điều 26 Luật Thi hành án dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T đối với ông Lê Văn Y, bà Phạm Thị H2 về việc trả lại đất nông nghiệp:
Buộc ông Lê Văn Y, bà Phạm Thị H2 phải trả lại cho ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị K, bà Phạm Thị L, ông Phạm Văn K1 thửa ruộng số 18.8, tờ bản đồ số 01, có diện tích 240m² ở thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Kí hiệu 1,2,3,4,1 Có sơ đồ kèm theo).
-
Giao cho ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị K, bà Phạm Thị L, ông Phạm Văn K1 được quản lý, sử dụng, sở hữu toàn bộ cây cối, tài sản trên diện tích đất ruộng 240m² nêu trên.
Buộc ông Phạm Văn T phải thanh toán, trả cho vợ chồng ông Lê Văn Y, bà Phạm Thị H2 số tiền 40.000.000₫.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và vợ chồng ông Y bà H2 có yêu cầu thi hành án, nếu ông T không trả đủ cho vợ chồng ông Y, bà H2 số tiền 40.000.000đ thì hàng tháng phải trả khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
-
Về án phí:
Buộc ông Lê Văn Y và bà Phạm Thị H2 phải liên đới chịu nộp 3.300.000₫ án phí sơ thẩm.
Buộc ông Phạm Văn T phải chịu 2.000.000đ án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai thu số 0000050 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông T phải tiếp tục chịu nộp 1.700.000đ án phí sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về thi hành án, tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 28/6/2024 và ngày 09/7/2024 ông Lê Văn Y kháng cáo bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết xét xử theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 05/7/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường có quyết định kháng nghị số 02/QĐKNPT-VKSVT, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm số 18/2024/DS- ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc không rút kháng nghị. Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút kháng cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm toàn bộ các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:
- - Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm.
- - Về việc giải quyết vụ án: Tại phiên toàn phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án, việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện không ép buộc, không trái đạo đức xã hội cần được ghi nhận.
- - Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, theo hướng xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất. Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự như sau: Ông Y và bà H2 được quyền sử dụng 120m² đất; ông T, bà K, bà L, ông K1 được quyền sử dụng 120m² đất; ông Y và bà H2 phải có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản, cây cối để trả lại mặt bằng cho ông T, bà K, bà L và ông K1 các đương sự không phải thanh toán cho nhau. Về án phí ông Y phải chịu 1/2 = 360.000 + 300.000đ án phí phúc thẩm; ông T tự nguyện chịu 360.000₫.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn và quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường làm trong thời hạn luật định do đó được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung thỏa thuận của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đều trình bày:
Hiện nay, vợ chồng ông Lê Văn Y, bà Phạm Thị H2 đang sử dụng thửa đất số 1.18 (126), tờ bản đồ số 1, diện tích là 336m²; địa chỉ thửa đất tại: Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/3/2001 cho hộ ông Lê Văn Y). Trong thửa đất nói trên có 240m² đất trước đây có nguồn gốc đứng tên cụ Lê Thị S trong sổ mục kê (Diện tích này giáp đất cũ của hộ ông T2). Nay các đương sự đều xác định vị trí thửa đất 18.8, diện tích 240m² đất có nguồn gốc đứng tên cụ Lê Thị S trong sổ mục kê là vị trí thửa đất số 1.18 (126), tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại: Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đã được đo vẽ theo sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản trên đất ngày 30/11/2023. Nay tất cả các đương sự thống nhất để ông Lê Văn Y, bà Phạm Thị H2 được tiếp tục sử dụng 120m², còn ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị K, bà Phạm Thị L, ông Phạm Văn K1 được sử dụng 120m² đất (có nguồn gốc đứng tên cụ Lê Thị S trong sổ mục kê). Do hiện nay ông Lê Văn Y, bà Phạm Thị H2 đang quản lý và sử dụng toàn bộ 240m² đất nói trên và có trồng cây cối trên đất nên ông Lê Văn Y, bà Phạm Thị H2 có nghĩa vụ giao lại quyền sử dụng 120m² về phía Đông Bắc của thửa đất cho ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị K, bà Phạm Thị L, ông Phạm Văn K1 được sử dụng.
Cụ thể, các đương sự thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết như sau:
- - Ông Lê Văn Y, bà Phạm Thị H2 có nghĩa vụ giao lại quyền sử dụng 120m² đất nông nghiệp cho ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị K, bà Phạm Thị L, ông Phạm Văn K1 tại thửa số 1.18 (126), tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại: Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (UBND huyện V đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/3/2001 cho hộ ông Lê Văn Y). Diện tích 120m² đất giao cho ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị K, bà Phạm Thị L, ông Phạm Văn K1 có phía Đông Nam dài 03m giáp đường nhựa, phía Đông Bắc dài 40m giáp đất cũ của hộ ông T2, phía T dài 3m giáp lối mòn, phía Tây Nam dài 40m giáp phần còn lại thửa đất số 1.18 (126) hộ ông Lê Văn Y.
- - Ông Lê Văn Y, bà Phạm Thị H2 có trách nhiệm thu hoạch, di dời hoặc chặt bỏ ngay toàn bộ cây cối lâm lộc trên diện tích 120m² đất thỏa thuận giao cho ông cho ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị K, bà Phạm Thị L, ông Phạm Văn K1.
- - Các đương sự không phải thanh toán tiền tài sản cho nhau.
- - Ông T tự nguyện chịu ½ án phí dân sự sơ thẩm, ông Y tự nguyện ½ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Như vậy, do các đương sự tự nguyện thỏa thuận giải quyết vụ án, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[3] Về kháng nghị:
3.1. Về nội dung kháng nghị về xác định mối quan hệ tranh chấp: Thửa đất ông T khởi kiện chưa có giấy tờ đứng tên ông nên cấp sơ thẩm xác định là “Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp” là chưa chính xác vì nay cần điều chỉnh lại là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
3.2. Về kháng nghị về án phí: Bản án sơ thẩm buộc ông Y, bà H2 phải chịu án phí 3.000.000 đồng đối với 60.000.000 đồng không được Tòa án chấp nhận là sai vì đây không phải yêu cầu phản tố của ông Y hay yêu cầu độc lập của bà H2. Nội dung kháng nghị là có cơ sở. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận về toàn bộ nội dung tranh chấp và án phí dân sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm tính án phí theo sự thỏa thuận của đương sự.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm được tính lại như sau: Trị giá đất tranh chấp là 240m² x 60.000đ/m² = 14.400.000đ. Án phí sơ thẩm là 14.400.000₫ x 5% = 720.000đ. Ông T tự nguyện chịu ½ án phí dân sự sơ thẩm nên phải chịu 360.000đ, ông Y chịu tự nguyện ½ tiền án phí dân sự sơ thẩm nên phải chịu 360.000₫.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do các đương sự thỏa thuận tại phiên tòa nên người kháng cáo phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2014/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Ông Lê Văn Y, bà Phạm Thị H2 có nghĩa vụ giao lại quyền sử dụng 120m² đất nông nghiệp cho ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị K, bà Phạm Thị L, ông Phạm Văn K1 tại thửa số 1.18 (126), tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại: Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (UBND huyện V đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/3/2001 cho hộ ông Lê Văn Y). Diện tích 120m² đất giao cho ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị K, bà Phạm Thị L, ông Phạm Văn K1 có phía Đông Nam dài 03m giáp đường nhựa, phía Đông Bắc dài 40m giáp đất cũ của hộ ông T2, phía T dài 3m giáp lối mòn, phía Tây Nam dài 40m giáp phần còn lại thửa đất số 1.18 (126) hộ ông Lê Văn Y.
- Ông Lê Văn Y, bà Phạm Thị H2 có trách nhiệm thu hoạch, di dời hoặc chặt bỏ ngay toàn bộ cây cối lâm lộc trên diện tích 120m² đất thỏa thuận giao cho ông cho ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị K, bà Phạm Thị L, ông Phạm Văn K1.
- Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án.
- Các đương sự không phải thanh toán tiền tài sản cho nhau.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phạm Văn T phải chịu 360.000₫ (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0000050 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông T phải tiếp tục nộp 60.000₫ (Sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Lê Văn Y phải chịu 360.000₫ (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn Y phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận đã nộp đủ 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004995 ngày 09/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Vĩnh Thành |
Bản án số 87/2025/DS-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 87/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông T và ông Y tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp
