Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 87/2025/DS-PT

Ngày: 24/06/2025

V/v Tranh chấp đòi tài sản là

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Phương

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Hạng

Ông Nguyễn Hồng Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Đăng Phương Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DSST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 102/2025/QĐ-PT ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1971 và bà Lê Thị N, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Bà N ủy quyền cho ông T. Có mặt.
  • * Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1964.
  • Địa chỉ: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
  • Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1992; địa chỉ S đường A khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Tường L – Văn phòng luật sư Nguyễn Tường L thuộc Đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Người đại diện theo pháp luật vắng mặt.
  • * Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị N trình bày:

Năm 1998, vợ chồng ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất có ký hiệu thửa 41, tờ bản đồ số 19, toạ lạc thôn H, xã C, thành phố C có diện tích là 10.025m² có nguồn gốc cha là ông Nguyễn M cho. Đến năm 2010, Nhà nước thu hồi một phần để làm dự án đường vào khu xử lý rác thành phố C thì diện tích còn lại là 9.346,8m². Ông T đã nhận bồi thường đầy đủ, số tiền chính xác là bao nhiêu ông không nhớ. Quá trình sử dụng, ông P đã mượn đất của nguyên đơn để chăn nuôi bò, dê. Nay ông T đã nhiều lần yêu cầu trả 9.346,8m² và tháo dỡ chuồng trại, hàng rào trả lại hiện trạng ban đầu của thửa đất nói trên đất nhưng ông P không trả. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị N rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 376m². Theo đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất theo thực tế đo đạc là 8.979,8m², thuộc thửa đất nói trên và tháo dỡ chuồng trại, hàng rào trả lại hiện trạng ban đầu của thửa đất.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:

Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là đất nằm trong một phần diện tích lớn do ông Nguyễn Văn S, là cha của ông P khai hoang trước năm 1975, ông không nắm rõ diện tích bao nhiêu. Thửa đất có tứ cận là phía bắc giáp đất của ông P và đất ông N1, phía Nam giáp đất ông P và ông T2, phía Đông giáp đường sắt, phía tây giáp đường vào bãi rác. Sau năm 1975, cha ông Phục giao lại cho ông trực tiếp quản lý, sử dụng. Khoảng năm 1992, ông T có hỏi mượn một đám đất màu để trồng đậu xanh thì ông P đồng ý. Ông T canh tác được một năm nữa thì ông P vẫn là người quản lý trực tiếp. Sau này, ông P không biết tại sao ông T lại được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2011 - 2012, Ông P biết ông T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được bồi thường 42.000.000đồng do thu hồi một phần đường để làm dự án vào khu bãi rác. Khi đó, vì là anh em, chú bác nên ông P đồng ý cho ông T nhận bồi thường và không khiếu nại đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà N. Nay, ông P không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông P yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00790 QSDĐ/CĐT - CR ngày 24/6/1998, đã cấp cho hộ ông Nguyễn Minh T, bà Lê Thị N.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố C:

Trong suốt quá trình giải quyêt vụ án không có ý kiên bằng văn bản đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại thôn H, xã C, thành phố C, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00790 QSDĐ/CĐT - CR ngày 24/6/1998, đã cấp cho hộ ông Nguyễn Minh T, bà Lê Thị N.

Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DSST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

  • - Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Nguyễn Minh T, bà Lê Thị N về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn P trả lại diện tích đất lấn chiếm là 376m².
  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị N. Buộc bị đơn ông nguyễn Văn P phải trả lại cho hộ gia đình ông Nguyễn Minh T, bà Lê Thị N diện tích 8.979,8m2 (ký hiệu A) theo Mảnh trích đo địa chính số 07 – 2024, ngày 14/8/2024 của Công ty TNHH Đ và Tư vấn bất động sản Cam Ranh thuộc thửa đất số 41, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, được Ủy ban nhân dân huyện C (nay là thành phố C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất : 00790 QSDĐ/CPĐ – CR ngày 24/6/1998.
  • - Buộc ông Nguyễn Văn P phải tháo dỡ, di dời trại tạm (Ký hiệu t), cột kèo gỗ, mái tôn, diện tích 66,2m²; Hàng rào B40 tại các điểm tọa độ 5-6-7 và 15-16; cổng sắt từ điểm tọa độ 16 đến 17 ra khỏi thửa đất số 41, tờ bản đồ số 19, toạ lạc tại thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa đã cấp cho ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị N
  • (Kèm theo Mảnh trích đo địa chính số 07-2024, ngày 14/8/2024 của Công ty TNHH Đ).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quy định chung và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 22/11/2024, bị đơn ông nguyễn Văn P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị đơn cho rằng Bản án sơ thẩm xem xét nguồn gốc đất và diện tích đất không đúng, định giá đất không đúng với giá thị trường. Đồng thời, Bản án sơ thẩm giải quyết thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là con ông T, những người giáp ranh xung quanh đất tranh chấp. Bị đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết không đúng thẩm quyền. Do đó, bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn và hủy bản án sơ thẩm.
  • - Nguyên đơn không đồng ý với kháng cáo của bị đơn và cho rằng Nhà nước cấp đất cho hộ gia đình ông T. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tại phiên tòa phúc thẩm: Theo tài liệu chứng cứ cho thấy bị đơn không chứng minh được việc đăng ký kê khai đối với diện tích đất tranh chấp. Ngược lại, theo hồ sơ nguồn gốc đất cho thấy nguyên đơn được cấp diện tích đất trên cho hộ gia đình theo Nghị định 64/CP. Đồng thời, quá trình sử dụng Nhà nước thu hồi một phần diện tích và đã được lập hồ sơ bồi thường đối với hộ gia đình ông T. Do đó, Viện kiểm sát xác định có cơ sở nguồn gốc đất là của nguyên đơn nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngày 23/09/2024, Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử vụ án vắng mặt bị đơn. Ngày 15/11/2024, bị đơn nhận được bản án. Ngày 22/11/2024, bị đơn kháng cáo bản án nêu trên. Như vậy, Đơn kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:

  • - Thửa đất 41, tờ bản đồ 19, diện tích 10.025m² tại xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh T, bà Lê Thị N ngày 24/6/1998. Theo Đơn đăng ký quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Minh T ngày 09/9/1996 thể hiện thông tin nguồn gốc do cha là ông Nguyễn M cho năm 1992. Hồ sơ kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thấy cho hộ gia đình ông T được cấp theo Nghị định 64/CP. Theo Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 04/01/2011 của Ủy ban nhân dân thị xã C đã căn cứ vào nguồn gốc đất nêu trên để thu hồi, bồi thường, hỗ trợ cho ông T với số tiền 30.757.800đồng. Theo Biên bản kiểm kê khối lượng đền bù giải tỏa ngày 24/12/2010 của Ủy ban nhân dân thành phố C và Bản đồ trích đo địa chính khu đất để tiến hành giải tỏa đền bù thực hiện dự án đường vào bãi rác xã C là phần diện tích thửa số 41, tờ bản đồ 19 tại xã C thành phố C. Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào hồ sơ nguồn gốc đất kê khai cấp cho hội gia đình ông T theo Nghị định 64/CP và thực tế sử dụng trong quá trình giải tỏa đền bù có căn cứ xác định thửa đất số 41, tờ bản đồ 19 tại xã C thành phố C thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần diện tích lấn chiếm là có cơ sở.
  • - Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn P thừa nhận ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị N được Ủy ban nhân dân huyện C (nay thành phố C) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/6/1998. Năm 2010 đến 2011, Ủy ban nhân dân thành phố C đã tiến hành thu hồi, đền bù một phần diện tích đất được cấp theo giấy chứng nhận nêu trên đối với chủ sử dụng đất là ông T, bà N. Tuy nhiên, trong suốt thời gian từ khi cấp sổ đến khi thu hồi đất ông P không có bất kỳ ý kiến hay khiếu nại đối với việc cấp đất và thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, ông P không có tài liệu chứng cứ gì kê khai, xác nhận để chứng minh quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp. Do đó, ông P cho rằng phần đất tranh chấp do cha ông là ông Nguyễn Văn S để lại cho ông là không có cơ sở.
  • - Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cho rằng hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa nên Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết là sai thẩm quyền. Theo phân tích trên việc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn theo diện phân phố lại của Nghị định 64/CP cho hộ gia đình ông T. Do đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên không có cơ sở để hủy nên Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Trên cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự:

Bị đơn có đơn xin miễn án phí với lý do là người cao tuổi, xét đủ điều kiện nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • * Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn P, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
  • * Về án phí: Ông Nguyễn Văn P được miễn án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
  • * Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND Tp. Cam Ranh;
  • - Chi cục THADS Tp. Cam Ranh;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Đình Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/DS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 87/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Nguyễn Minh Trí, Lê Thị Nghiệp và bị đơn Nguyễn Văn Phục
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger