Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 87/2025/DS-PT

Ngày 20/3/2025

V/v tranh chấp hợp đồng thuê nhà

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Khương.

Các Thẩm phán: Bà Tôn Thị Thanh Thúy.

Ông Trần Nam Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Sơn Cươl - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06 tháng 02, ngày 12, 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 296/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng thuê nhà.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị S. Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lý B, là luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S. Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Bị đơn:

  1. Ông Tạ Thanh T. Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  2. Bà Phan Thị Hồng T1. Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị Hồng T1: Ông Tạ Thanh T. Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (theo giấy ủy quyền lập ngày 14/01/2025). (có mặt)

- Người làm chứng: Ông Đoàn Văn L (Đoàn Văn L1). Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Người kháng cáo: Ông Tạ Thanh T và bà Phan Thị Hồng T1, là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Tại đơn khởi kiện ngày 12/5/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Trần Thị S trình bày:

Bà Trần Thị S có một phần đất tự khai phá, bồi đắp vào năm 2000 tại ấp C, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (đất thuộc trường hợp đất công do nhà nước quản lý). Trên đất bà S xây căn nhà để ở với chiều ngang khoảng 04m, chiều dài khoảng 11m, cột đúc, mái lợp bằng tol xi măng, nền lót bằng gạch tàu, hai bên vách lá, mặt tiền ván gỗ, cửa cây. Vào ngày 15/02/2016, bà Trần Thị S cho vợ chồng ông Tạ Thanh T, bà Phan Thị Hồng T1 thuê căn nhà để làm trại tôm, có hợp đồng thời hạn thuê là 10 năm và thỏa thuận trả tiền thuê nhà mỗi năm là 10.000.000 đồng, sau đó thỏa thuận với nhau tiền thuê nhà được chia làm 02 lần/năm. Căn nhà của bà S được ông T, bà T1 sử dụng và bảo quản, đóng tiền thuê nhà đầy đủ từ tháng 02/2016 đến năm 2021. Trong quá trình sử dụng làm trại tôm thì ông T và bà T1 có xây bể ương tôm, không biết xây bao nhiêu cái. Do nhà sát lộ, xe chạy ngang nhà không có hàng rào thì không an toàn nên ông T và bà T1 có nói với bà S cho ông T, bà T1 xây hàng rào và xây lại mặt tiền nhà bằng vách tường 10, có lắp 01 cửa sắt để thay thế vách mặt tiền ván gỗ thì bà S đồng ý. Đến năm 2022, ông T, bà T1 trả tiền thuê nhà được 3.000.000 đồng và chưa trả tiền thuê từ năm 2023 cho đến nay.

Tại phiên tòa bà Trần Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Tạ Thanh T và bà Phan Thị Hồng T1 trả tiền thuê nhà của năm 2022 thêm 7.000.000 đồng là đủ 10.000.000 đồng/năm theo như hợp đồng; Trả tiền thuê nhà của năm 2023 đến hết thời gian của năm 2023 là 10.000.000 đồng; Trả tiền thuê nhà ½ năm 2024 (từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2024) là 5.000.000 đồng. Tổng tiền thuê nhà là 22.000.000 đồng. Yêu cầu ông T, bà T1 phải trả lại căn nhà thuê cho bà Trần Thị S. Bà S đồng ý tiếp tục quản lý, sử dụng những kiến trúc do ông T, bà T1 xây dựng thêm và đồng ý thanh toán giá trị cho ông T, bà T1 theo định giá tổng cộng là 27.517.620 đồng, đồng ý trừ vào tiền thuê nhà 22.000.000 đồng, bà S sẽ thanh toán số tiền giá trị xây dựng thêm còn lại cho ông T, bà T1 là 5.517.620 đồng. Chỉ yêu cầu bị đơn phá dở, di dời 02 hồ chứa, tháo dỡ, di dời 01 cửa kéo bằng sắt phía trước gắn trên vách tường 10, để giao trả lại căn nhà cho bà S.

Đối với phần đất, do căn nhà được xây dựng trên phần đất do Ủy ban nhân dân xã N quản lý, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Tại biên bản hòa giải ngày 03/7/2023, bà Phan Thị Hồng T1 trình bày:

Năm 2007, bà T1 và ông T có thuê căn nhà của bà Trần Thị S để làm trại tôm chiều ngang khoảng 3,5m, chiều dài khoảng 11m, cột đúc, mái lợp bằng tol xi măng, nền lót bằng gạch tàu, vách lá, cửa lá xách tại ấp C, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Khi bà T1, ông T nhận nhà đã thuê thì bà S gỡ cửa cây đem đi. Khi thuê nhà năm 2007 có làm hợp đồng thuê một năm 6.000.000 đồng, trong năm 2007 khi thuê căn nhà thì ông T, bà T1 phá bỏ nền gạch tàu làm lại nền xi măng, nền nhà có cao hơn lúc đầu khoảng 05cm. Ông T, bà T1 đóng tiền thuê nhà đến năm 2015.

Qua năm 2016 thì bà S, ông T và bà T1 mới thỏa thuận lại giá thuê nhà 10.000.000 đồng/01 năm, có làm “Bảng hợp đồng (v/v cho thuê nhà ở)” lập ngày 15/02/2016 do ông Tạ Thanh T và bà Trần Ngọc S1 ký tên hợp đồng, bản hợp đồng bà S1 nộp cho Tòa án đúng là hợp đồng mà bà S1 và ông T đã ký vào năm 2016 nêu trên. Ông T, bà T1 đóng đủ tiền thuê nhà theo thỏa thuận đến năm 2018 thì chuyển nhượng lại nguyên căn nhà, không có chuyển nhượng đất nền nhà, vì là đất công của Nhà nước. Khi mua căn nhà với giá 100.000.000 đồng, ông T có bán thuốc thủy sản và tôm giống cho bà S1 và bà S1 còn nợ khoảng hơn 30.000.000 đồng, nên ông T và bà T1 trả thêm cho bà S1 hơn 60.000.000 đồng là đủ 100.000.000 đồng, không có làm giấy tờ mua bán nhà, chỉ giao kết miệng với nhau.

Năm 2018, sau khi mua căn nhà của bà S1 thì ông Đoàn Văn L1 (ấp C, xã N, huyện M) là em chồng của bà S1 tranh chấp, nói ông T không có quyền mua nhà vì ông L1 cho rằng đất công của nhà nước thì do ông L1 xin được sử dụng nên bà S1 mới cất nhà thì nhà là của ông L1, ông L1 nói tiền thuê nhà ông L1 cũng được chia phân nữa, vì vậy ông L1 nói ông T, bà T1 không được quyền chuyển nhượng căn nhà của bà S1. Khi đó UBND xã N cũng có hòa giải và giao quyền sử dụng nhà cho ông Tạ Thanh T, khi nào nhà nước lấy lại đất thì ông T phải trả lại đất cho nhà nước, UBND xã chỉ mời lên hòa giải, động viên các bên không có lập biên bản. Trong quá trình sử dụng nhà, ông T và bà T1 có xây khoảng 10 bể ương tôm. Đến năm 2019, ông T và bà T1 xây dựng hàng rào kiên cố, phá bỏ một số bể ương tôm. Hiện nay căn nhà do ông T và bà T1 đang quản lý, sử dụng.

Nay bà T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị S vì bà T1 và ông T đã chuyển nhượng lại căn nhà của bà Trần Thị S. Việc chuyển nhượng nhà thì chỉ nói miệng nên không có giấy tờ chứng minh, không làm giấy tờ mua bán được vì nhà xây trên đất công của Nhà nước.

- Tại bản tường trình ngày 12/6/2024, ông Tạ Thanh T trình bày:

Vào khoảng tháng 01/2019, ông T có chuyển nhượng căn nhà của bà Trần Thị S theo giá thỏa thuận, ông T có gặp ông Nguyễn Ngọc A – Trưởng ban N1 để làm giấy tờ hợp thức chuyển nhượng. Nhưng ông Ngọc A nói đất thuộc quản lý của nhà nước thì hai bên tự thỏa thuận với nhau. Đến tháng 3/2019, ông T sửa chữa căn nhà với số tiền tương đương 30.000.000 đồng. Trong thời gian sửa chữa nhà thì UBND xã N có mời ông T giải quyết tranh chấp căn nhà nêu trên với ông Đoàn Văn L1 (Đoàn Văn L) và UBND xã có đến căn nhà của bà S chuyển nhượng để xác minh thì bà S đã đồng ý chuyển nhượng cho ông T căn nhà trên theo giá thỏa thuận. Sau đó, UBND xã N có mời ông Đoàn Văn L1 (Đoàn Văn L) và các ban ngành của xã cùng chứng kiến, ông T có ý kiến là căn nhà nằm trong khu quy hoạch, nếu nhà nước cần thì ông T đồng ý trả lại.

- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DS-ST ngày 17-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

“Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 165; khoản 1 Điều 166; Điều 271; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 472; Điều 481; Điều 482 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ Điều 121 Luật nhà ở.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị S.

+ Tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở ngày 15/02/2016 giữa bà Trần Thị S với ông Tạ Thanh T, bà Phan Thị Hồng T1 đối với căn nhà được xây dựng trên phần đất thuộc thửa đất số 123, tờ bản đồ số 9, do Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng quản lý. Địa chỉ tại ấp C, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

+ Buộc bị đơn ông Tạ Thanh T, bà Phan Thị Hồng T1 cùng liên đới nghĩa vụ tháo dở, phá dở, di dời các tài sản gồm có: Hồ chứa 1 (hồ vèo tôm, 0,6m x 5,15m) 3,09m²; Hồ chứa 2 (hồ vèo tôm, 0,6m x 1,55m): 0,9m²; Cửa sắt kéo (1,8m x 2m) phía trước (là cửa trước gắn trên vách tường 10), để giao trả cho bà Trần Thị S căn nhà thuê diện tích 42,8m², được xây dựng trên phần đất thuộc thửa đất số 123, tờ bản đồ số 9 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng quản lý. Địa chỉ đất tại ấp C, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

+ Buộc ông Tạ Thanh T, bà Phan Thị Hồng T1 có nghĩa vụ giao trả cho bà Trần Thị S 03 cây đòn tay gỗ dài 4,2m, đường kính (0,5 cm x 0,3 cm).

+ Ông Tạ Thanh T, bà Phan Thị Hồng T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Trần Thị S tiền thuê nhà còn lại của năm 2022 là 7.000.000 đồng; tiền thuê nhà còn nợ của năm 2023 là 10.000.000 đồng; tiền thuê nhà còn nợ của ½ năm 2024 là 5.000.000 đồng. Tổng số tiền nợ thuê nhà là 22.000.000 đồng. Nhưng được trừ vào giá trị các công trình kiến trúc do ông T, bà T1 xây dựng thêm tổng giá trị 27.517.620 đồng mà bà S có nghĩa vụ thanh toán cho ông T và bà T1. Như vậy ông T và bà T1 đã thanh toán xong.

+ Nguyên đơn bà Trần Thị S có nghĩa vụ thanh toán cho ông Tạ Thanh T và bà Phan Thị Hồng T1 số tiền còn lại của giá trị các công trình kiến trúc do ông T, bà T1 xây dựng thêm là 5.517.620 đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc ông Tạ Thanh T, bà Phan Thị Hồng T1 có đơn yêu cầu thi hành án, mà bà Trần Thị S chậm trả số tiền giá trị vật kiến trúc 5.517.620 đồng cho ông T và bà T1, thì bà S còn phải trả lãi đối với số tiền trả chậm theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian trả chậm tại thời điểm thanh toán.

+ Ổn định cho bà Trần Thị S được toàn quyền quản lý, sử dụng và sở hữu tài sản là các công trình kiến trúc do ông T, bà T1 xây dựng thêm khi thuê nhà, gồm có: Nền nhà lát xi măng diện tích 36,4m² (lấp trên nến gạch tàu có sẵn); Nền lát gạch men 6,4m²; Vách tường 10 mặt tiền nhà 14m²; Mái che sân trước bằng kẽm diện tích 11,2m² (kết cấu: một phần cột bê tông đúc sẵn + thép, đỡ mái bằng thép, mái lợp tol thiếc, diện tích 04m x 2,8m); Phần sân trước: Sân, nền lát gạch men, diện tích (04m x 1,2m); Hàng rào: Kết cấu vách tường 20, khung thép, diện tích (02m x 3,95m).

+ Đối với 01 cây nước của bà S đóng sẵn, sau khi giao nhà cho ông T thì ông T đã xây nền gạch men lấp lên cây nước, hiện nay cây nước không còn. Bà S không yêu cầu giải quyết, không đặt ra xem xét.

+ Đối với phần đất nguyên đơn và bị đơn thống nhất căn nhà được xây dựng trên phần đất do Ủy ban nhân dân xã N quản lý, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

+ Về chi phí thẩm định, định giá: Ông Tạ Thanh T, bà Phan Thị Hồng T1 phải liên đới chịu 8.700.000 đồng chi phí thẩm định, định giá. Do nguyên đơn bà Trần Thị S đã tạm ứng trước chi phí thẩm định, định giá số tiền 8.700.000 đồng. Nên buộc ông Tạ Thanh T và bà Phan Thị Hồng T1 liên đới nộp 8.700.000 đồng để hoàn trả cho bà Trần Thị S, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên.

+ Về án phí sơ thẩm: Bị đơn ông Tạ Thanh T và bà Phan Thị Hồng T1 phải liên đới chịu là 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên. Nguyên đơn bà Trần Thị S được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 750.000 đồng theo biên lai thu số 0009413, ngày 01/6/2023 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sóc Trăng.”

Ngoài ra, án sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

- Ngày 21/10/2024, các bị đơn đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện. Các bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

+ Vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn và áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự để giữ nguyên bản án sơ thẩm.

+ Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự để hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo của các bị đơn phù hợp quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định bà Trần Thị S có cho vợ chồng ông Tạ Thanh T, bà Phan Thị Hồng T1 thuê căn nhà được xây dựng trên thửa đất số 123, tờ bản đồ số 9 (do Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng quản lý) để làm trại ương tôm, với giá thuê mỗi năm là 10.000.000 đồng, có lập “Bản hợp đồng (v/v cho thuê nhà ở)” ngày 15/02/2016 do ông T và bà S ký. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định các tình tiết, sự kiện này là có thật.

[3] Sau khi kháng cáo, ông Tạ Thanh T, bà Phan Thị Hồng T1 cung cấp cho Tòa án Biên bản xác minh ngày 02/12/2024 của Ban N1, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng có nội dung vào ngày 01/6/2024, ông T đã tu bổ, sửa chữa lại căn nhà tranh chấp. Theo kết quả ghi nhận tại Biên bản ngày 11/02/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng thì phần kết cấu mà vợ chồng ông T, bà T1 xây dựng thêm gồm 13 cột sắt hộp, 02 cột đúc, 01 vách tol, mái tol kẽm, đỡ mái sắt hộp. Các kết cấu này chưa được án sơ thẩm ghi nhận, giải quyết vì phía bị đơn xây dựng sau khi cấp sơ thẩm xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản vào ngày 16/01/2024

[4] Theo ông Đoàn Văn L (Đoàn Văn L1) trình bày trước đây có thanh toán tiền cho vợ chồng ông Tăng Văn N (trú tại ấp C, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng) để được sử dụng phần đất gắn liền với căn nhà đang tranh chấp và ông L cho ông Tạ Thanh T thuê lại theo hợp đồng lập ngày 06/02/2007; sau đó, ông L cho bà Trần Thị S ở nhưng không được sang bán lại cho người khác. Ý kiến này của ông L cũng được bà S, ông T, vợ ông N và ông Bùi Tấn M (trú tại ấp C, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng) xác nhận. Nhưng khi giải quyết vụ án, do chưa phát sinh các tình tiết này nên cấp sơ thẩm không đưa ông L vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông L.

[5] Các phân tích trên cho thấy vụ án có phát sinh tình tiết mới mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể khắc phục, bổ sung được. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Khi giải quyết vụ án, Tòa án cần đưa ông Đoàn Văn L vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết quyền lợi của ông L đối với phần đất gắn liền với căn nhà tranh chấp.

[6] Do án sơ thẩm bị hủy để giải quyết lại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét nội dung kháng cáo của các bị đơn. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn sẽ được xem xét khi vụ án được giải quyết lại.

[7] Về án phí và chi phí khác:

[7.1] Số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm và và chi phí tố tụng khác sẽ được xem xét khi vụ án được giải quyết lại.

[7.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do án sơ thẩm bị hủy nên ông Tạ Thanh T, bà Phan Thị Hồng T1 không phải chịu theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; trả lại cho bà T1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp, riêng ông T đã được miễn nộp khoản tiền này nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
  2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
  3. Về án phí và chi phí khác:

    Số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác sẽ được xem xét khi vụ án được giải quyết lại.

    Bà Phan Thị Hồng T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trả lại cho bà Phan Thị Hồng T1 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0005643 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND huyện Mỹ Xuyên;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Xuyên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vĩnh Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/DS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng thuê nhà

  • Số bản án: 87/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng thuê nhà
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng thuê nhà
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger