|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 87/2025/DS-PT Ngày: 19-3-2025 V/v “Tranh chấp di sản thừa kế” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Sự
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Nam
Bà Lê Kim Đó
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Linda – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Thư – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 311/2023/TLPT-DS ngày 01/12/2023 về việc: “Tranh chấp di sản thừa kế”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2025/QĐ-PT ngày 06/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2025/QĐ-PT ngày 24/01/2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số 82/2025/TB-TA ngày 20/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S năm 1960
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn H8(chết ngày 17/3/2022)
- Bà Nguyễn Thị T1 năm 1961
- Ông Nguyễn Hồng  năm 1985
- Bà Nguyễn Thị Phúc C năm 1987
- Ông Nguyễn Hồng A năm 1990
- Bà Nguyễn Thị T2 năm 1962
- Bà Nguyễn Thị T3 năm 1964
- Ông Nguyễn Đình T4 năm 1966
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C2
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn S1 (Ông T5 mặt)
Địa chỉ: Số nhà D, ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước
Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Minh Q năm 1975 (văn bản ủy quyền ngày 06/12/2019).
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trần Hồng T năm 1981 (văn bản ủy quyền ngày 18/12/2019).
Địa chỉ liên lạc: Số 127, Đường ĐT 741, khu phố Tân An, thị trấn Tân Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H:
Địa chỉ: ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai
Địa chỉ: khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai
Địa chỉ: Số A đường A, khu phố I, phường T, TP ., TP .
Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước
Địa chỉ: Số nhà F, tổ A, ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai
Địa chỉ: Số nhà B, tổ A, ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai
Địa chỉ: Số nhà B, tổ A, ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai
Người đại diện: Ông Trần Đình H văn phòng.
Địa chỉ: Số B Quốc lộ A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Cha của ông S2 ông Nguyễn Văn T6 năm 1930, chết ngày 29/01/2014. Mẹ ông S2 bà Nguyễn Thị L năm 1932, chết ngày 13/8/2019. Cha mẹ ông S14 tất cả 05 người con, gồm:
- Ông Nguyễn Văn H1 năm 1957. Ông H4 ngày 17/3/2022. Ông H2 vợ là bà Nguyễn Thị T7 các người con là bà Nguyễn Thị Phúc Công Nguyễn Hồng Â2 ông Nguyễn Hồng A1
- Ông Nguyễn Văn S năm 1960
- Bà Nguyễn Thị T2 năm 1962
- Bà Nguyễn Thị T3 năm 1964
- Ông Nguyễn Đình T4 năm 1966
Ngoài ra ông T5bà Lkhông còn người con nào khác. Ông nội ông S3 là ông Nguyễn Văn L1 năm 1975 không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án. Bà nội của ông S3 bà Nguyễn Thị T8 trước năm 1975, không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án. Ông ngoại của ông S4 chết từ lâu, không xác định được họ tên, không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án. Bà ngoại của ông Stên Nguyễn Thị T9 chết từ lâu, không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án.
Di sản của ông T5bà Lđể lại gồm có 02 thửa đất: Thửa số 293 tờ bản đồ số 9, diện tích 124m²; thửa số 292 tờ bản đồ số 9, diện tích 135m² tọa lạc tại xã V, huyện N, tỉnh Đồng Naivà một căn nhà trên thửa đất số 293 tờ bản đồ số 9 xã V ra ông T5bà Lkhông để lại di sản nào khác.
Ông T5chết không để lại di chúc. Bà L2 có lập di chúc ngày 09/4/2019 và ngày 30/5/2019 do Văn phòng C2 công chứng ngày 09/4/2019 và ngày 30/5/2019. Nội dung di chúc ngày 09/4/2019 thể hiện bà L5 ½ quyền sử dụng đất diện tích đất đối với thửa đất số 292 tờ bản đồ số 9 xã V, huyện N, tỉnh Đồng Naibà Lđể lại cho ông Nguyễn Văn S5 hưởng. Nội dung di chúc ngày 30/5/2019 thể hiện bà L5 ½ quyền sử dụng đất diện tích đất đối với thửa đất số 293 tờ bản đồ số 9 xã V, huyện N, tỉnh Đồng Naibà Lđể lại cho ông Nguyễn Văn S5 hưởng.
Nay ông S6 kiện yêu cầu, chia di sản thừa kế của ông T5bà Ltheo di chúc của bà L3 di sản thừa kế của ông T5không có di chúc thì đề nghị chia theo quy định của pháp luật.
Đối với diện tích đất 135m² thuộc thửa số 292 tờ bản đồ số 9 xã V, huyện N có di chúc để lại cho ông S7 diện tích đất nên ông S8 cầu được hưởng ½ diện tích đất nêu trên là 76,5m². Còn diện tích 76,5m² còn lại là di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn T10 ông S9 đều cho ông H6 Sbà T2bà T3và ông T4mỗi người một suất di sản bằng tiền. Ông S8 cầu được nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 292 tờ bản đồ số 9 xã V thanh toán lại bằng tiền cho các đồng thừa kế khác.
Đối với diện tích đất 124m² thuộc thửa 293 tờ bản đồ số 9 xã V có di chúc để lại cho ông S7 diện tích đất nên ông S8 cầu được hưởng ½ diện tích đất nêu trên là 62m². Còn diện tích 62m² còn là di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn T10 chia đều cho ông H6 Sbà T2bà T3và ông T4mỗi người một suất di sản thừa kế. Đối với thửa đất này ông S8 cầu được nhận bằng tiền, người nào nhận đất sẽ thanh toán là bằng tiền cho ông và các đồng thừa kế khác.
Ngoài ra ông S10 có yêu cầu gì khác.
* Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn H3 bà Nguyễn Thị T1bà Nguyễn Thị Phúc Công Nguyễn Hồng Â1, ông Nguyễn Hồng A1 trình bày:
Ông Nguyễn Văn H4 ngày 17/3/2022. Ông Nguyễn Văn H5 chồng của bà Nguyễn Thị T1Ông Nguyễn Văn T11 bà Nguyễn Thị L4 cha mẹ của ông Nguyễn Văn H6 T5chết ngày 29/01/2014; bà L2 ngày 13/8/2019. Đối với yêu cầu khởi kiện, bà Nguyễn Thị T1bà Nguyễn Thị Phúc Công Nguyễn Hồng Â2 ông Nguyễn Hồng A2 nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị T12 bày:
Cha của bà là ông Nguyễn Văn T6 năm 1930, chết ngày 29/01/2014. Mẹ của bà là bà Nguyễn Thị L năm 1932, chết ngày 13/8/2019. Cha mẹ của bà có tất cả 05 người con:
- Ông Nguyễn Văn H1 năm 1957. Ông H4 ngày 17/3/2022. Ông H2 vợ là bà Nguyễn Thị T7 các con là bà Nguyễn Thị Phúc Công Nguyễn Hồng Â2 ông Nguyễn Hồng A1
- Ông Nguyễn Văn S năm 1960
- Bà Nguyễn Thị T2 năm 1962
- Bà Nguyễn Thị T3 năm 1964
- Ông Nguyễn Đình T4 năm 1966
Ngoài ra ông T5bà Lkhông còn người con nào khác. Ông nội bà tên là anh Nguyễn Văn L1 năm 1975 không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án. Bà nội của bà tên bà Nguyễn Thị T8 trước năm 1975, không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án. Ông ngoại của bà đã chết từ lâu, không xác định được họ tên, không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án. Bà ngoại của bà tên Nguyễn Thị T9 chết từ lâu, không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án.
Di sản của ông T5bà Lđể lại gồm có 02 thửa đất: Thửa số 293 tờ bản đồ số 9, diện tích 124m²; thửa số 292 tờ bản đồ số 9, diện tích 135m² tọa lạc tại xã V, huyện N, tỉnh Đồng Naivà một căn nhà trên thửa đất số 293 tờ bản đồ số 9 xã V
Hiện nay thửa đất số 293 tờ bản đồ số 9 xã V do ông T4đang quản lý sử dụng. Ngoài ra ông T5bà Lkhông để lại di sản nào khác.
Bà T2khởi kiện yêu cầu phản tố với nội dung:
- + Tuyên vô hiệu hai bản di chúc: Di chúc công chứng số 0997 quyển số 01/2019/TP-CC-SCC/HĐGD ngày 09/4/2019 và di chúc công chứng số 1764 quyển số 01/2019/TP-CC-SCC/HĐGD ngày 09/4/2019 của Văn phòng C2.
- + Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn T5bà Nguyễn Thị L4 thửa đất 293, tờ bản đồ số 09 (diện tích 124m²) và thửa đất 292 tờ bản đồ số 09 (diện tích 135m²) lạc tại xã V, huyện N, tỉnh Đồng Naitheo quy định pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T5bà Lmỗi người được hưởng một kỷ phần thừa kế theo quy định.
Tại phiên toà, bà T2trình bày đối với thửa 293 giao cho ông T4sử dụng, đối với suất di sản thừa kế của bà được hưởng đối với thửa đất số 293 thì bà đồng ý cho lại ông T4được hưởng. Bà đồng ý giao cho ông S11 lý, sử dụng thửa đất số 292 và ông S14 trách nhiệm thanh toán lại cho các người thừa kế một suất thừa kề bằng tiền.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị T13 bày:
Cha của bà là ông Nguyễn Văn T6 năm 1930, chết ngày 29/01/2014. Mẹ của bà là bà Nguyễn Thị L năm 1932, chết ngày 13/8/2019. Cha mẹ bà có tất cả 05 người con:
- Ông Nguyễn Văn H1 năm 1957. Ông H4 ngày 17/3/2022. Ông H2 vợ là bà Nguyễn Thị T7 các người con gồm bà Nguyễn Thị Phúc Công Nguyễn Hồng Â2 ông Nguyễn Hồng A1
- Ông Nguyễn Văn S năm 1960
- Bà Nguyễn Thị T2 năm 1962
- Bà Nguyễn Thị T3 năm 1964
- Ông Nguyễn Đình T4 năm 1966
Ngoài ra ông T5bà Lkhông còn người con nào khác. Ông nội bà tên là ông Nguyễn Văn L1 năm 1975 không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án. Bà nội của bà tên bà Nguyễn Thị T8 trước năm 1975, không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án. Ông ngoại của bà đã chết từ lâu, không xác định được họ tên, không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án. Bà ngoại của bà tên Nguyễn Thị T9 chết từ lâu, không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án.
Di sản của ông T5bà Lđể lại gồm có 02 thửa đất: Thửa số 293 tờ bản đồ số 9, diện tích 124m²; thửa số 292 tờ bản đồ số 9, diện tích 135m² tọa lạc tại xã V, huyện N, tỉnh Đồng Naivà một căn nhà trên thửa đất số 293 tờ bản đồ số 9 xã V
Hiện nay thửa đất số 293 tờ bản đồ số 9 xã V do ông T4đang quản lý sử dụng. Ngoài ra ông T5bà Lkhông để lại di sản nào khác.
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà không đồng ý và đề nghị Toà án chia di sản thừa kế của ông T5bà Ltheo quy định của pháp luật.
* Bị đơn ông Nguyễn Đình T14 bày:
Cha của ông là ông Nguyễn Văn T6 năm 1930, chết năm 2014. Mẹ của ông là bà Nguyễn Thị L năm 1932, chết năm 2019. Cha mẹ ông có tất cả 05 người con:
- Ông Nguyễn Văn H1 năm 1957. Ông H4 ngày 17/3/2022. Ông H2 vợ là bà Nguyễn Thị T7 các con gồm ông Nguyễn Hồng Âbà Nguyễn Thị Phúc C1 ông Nguyễn Hồng A1
- Ông Nguyễn Văn S năm 1960
- Bà Nguyễn Thị T2 năm 1962
- Bà Nguyễn Thị T3 năm 1964
- Ông Nguyễn Đình T4 năm 1966
Ngoài ra ông T5bà Lkhông còn người con nào khác. Ông nội ông tên là ôngNguyễn Văn L2chết năm 1975 không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án. Bà nội của ông tên bà Nguyễn Thị T8 trước năm 1975, không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án. Ông ngoại của ông đã chết từ lâu, không xác định được họ tên, không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án. Bà ngoại của ông tên Nguyễn Thị T9 chết từ lâu, không có giấy chứng tử để cung cấp cho Tòa án.
Di sản của ông T5bà Lđể lại gồm có 02 thửa đất: Thửa số 293 tờ bản đồ số 9, diện tích 124m²; thửa số 292 tờ bản đồ số 9, diện tích 135m² tọa lạc tại xã V, huyện N, tỉnh Đồng Naivà một căn nhà trên thửa đất số 293 tờ bản đồ số 9 xã V
Hiện nay thửa đất số 293 tờ bản đồ số 9 xã V do ông T4đang quản lý sử dụng. Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông S12 yêu cầu được hưởng di sản thừa kế thửa 283 tờ bản đồ số 9 xã V, huyện N ông T5bà Lkhông để lại di sản nào khác.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1trình bày tại văn bản ngày 01/3/2023:
Bà Nguyễn Thị L5 lập 02 di chúc về việc định đoạt các thửa đất số 292, 293 tờ bản đồ số 9 xã V, huyện N, tỉnh Đồng NaiViệc Văn phòng C1của bà Nguyễn Thị L4 đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bà L6 già nhưng pháp luật không buộc phải khám sức khoẻ khi lập di chúc, việc sức khoẻ và năng lực hành vi dân sự của người lập di chúc không phải dùng chứng cứ chứng minh khi lập di chúc. Văn phòng C1xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
* Tại Bản án số 21/2023/DS-ST ngày 15/6/2023 TAND huyện Nhơn Trạch đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn S13 việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện khởi kiện phản tố của bà Nguyễn Thị T15 việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Tuyên bố di chúc của bà Nguyễn Thị L7 ngày 09/4/2019 đối với thửa đất số 929 tờ bản đồ số 9 xã V, huyện N Bình Phước công chứng số 0997 ngày 09/4/2019 và di chúc ngày 30/5/1019 đối với thửa đất số 293 tờ bản đồ số 9 xã V, huyện N C1ngày 31/5/2019 là không hợp pháp.
Chia cho ông Nguyễn Văn S5 quyền quản lý, sử dụng diện tích 135m² đất thuộc thửa số 292 tờ bản đồ sồ 09 xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai
Chia cho ông Nguyễn Đình T16 quyền quản lý, sử dụng diện tích 124m² đất thuộc thửa số 293 tờ bản đồ số 09 xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai
Ông Nguyễn Văn S14 trách nhiệm thanh toán cho các người thừa kế còn lại gồm ông Nguyễn Văn H7 Nguyễn Thị T2và bà Nguyễn Thị T17 mỗi người một suất thừa kế thành tiền là 321.060.000₫ (Ba trăm hai mươi mốt triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng).
Ông Nguyễn Đình T18 trách nhiệm thanh toán cho các người thừa kế còn lại gồm ông Nguyễn Văn H7 Nguyễn Thị T2và bà Nguyễn Thị T19 người một suất thừa kế thành tiền là 290.160.000₫ (Hai trăm chín mươi triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).
Ông Nguyễn Đình T18 trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Văn S15 tiền là 30.900.000đ (Ba mươi triệu chín trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự và quyền kháng cáo của đương sự.
* Ngày 27/6/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S16 cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm đảm bảo theo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về đường lối giải quyết:
Phần di sản ông T5bà Lbị tranh chấp gồm 2 thửa đất 292 và 293, tờ bản đồ 09 xã V, huyện N, tỉnh Đồng Naiđược UBND huyện Ncấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông T5bà LKhi ông T5chết thì không để lại di chúc; bà L7 02 di chúc để định đoạt cho ông Nguyễn Văn S17 toàn bộ phần tài sản thuộc sở hữu của mình trong khối tài sản chung vợ chồng, cụ thể là ½ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa 292, 293.
Di chúc bà L7 ngày 09/4/2019 và ngày 30/5/2019 được văn phòng C1, tỉnh Bình Phước chứng thực, có 2 người làm chứng ký tên. Tại thời điểm lập di chúc, không có chứng cứ để xác định bà L8 còn minh mẫn. Về nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, bà L9 đoạt ½ khối di sản là trong phạm vi bà L5 quyền sử dụng. Như vậy 2 tờ di chúc của bà L5 đầy đủ các điều kiện của một di chúc hợp pháp theo quy định tại Điều 630 BLDS năm 2015.
Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của ông S18 định 2 di chúc của bà L4 hợp pháp, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S13 việc chia di sản thừa kế của bà L10 di chúc, và chia di sản của ông T5theo pháp luật, trong đó chia cho ông S17 hiện vật là thửa đất số 292, tờ bản đồ 09, xã V, huyện N di sản cụ thể đề nghị căn cứ Điều 659, 660 BLDS năm 2015 để giải quyết.
Từ các nhận định trên, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn S19 bản án sơ thẩm theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S13 việc chia di sản thừa kế của bà L10 di chúc, và chia di sản của ông T5theo pháp luật, di sản là quyền sử dụng 2 thửa đất 292 và 293, tờ bản đồ 09 xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T2về việc tuyên vô hiệu 2 bản di chúc của bà L
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
[1] Về thủ tục kháng cáo:
Ngày 27/6/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S20 đơn kháng cáo, đơn của đương sự nộp trong thời hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm do đó kháng cáo của ông S được thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Người tham dự phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T1ông Nguyễn Hồng Âông Nguyễn Hồng A3 Nguyễn Thị Phúc Công Nguyễn Đ H2đề nghị được vắng mặt; các đương sự Nguyễn Thị T2Nguyễn Thị T3Nguyễn Đình T4được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do, áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[3] Xét kháng cáo:
[3.1] Hàng thừa kế, khối di sản tranh chấp, phạm vi giải quyết của vụ án
Các bên đương sự đều thống nhất xác định hàng thừa kế thứ nhất của vợ chồng ông Nguyễn Văn T20(chết ngày 29/01/2014) và bà Nguyễn Thị L11(chết ngày 13/8/2019) gồm: ông Nguyễn Văn Sông Nguyễn Văn H8, bà Nguyễn Thị T2bà Nguyễn Thị T21 ông Nguyễn Đình T22. Trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm ông H4, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng được xác định gồm bà Nguyễn Thị T1bà Nguyễn Thị Phúc Công Nguyễn Hồng Â2 ông Nguyễn Hồng A1
Đồng thời các đương sự cũng xác nhận ông T5bà Lđể lại di sản là quyền sử dụng 02 thửa số 292, 293 tờ bản đồ số 9 xã V, huyện N, tỉnh Đồng Naivà một căn nhà tọa lạc trên thửa đất số 293. Các tài sản trên được UBND huyện Ncấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà cho ông T5bà L
Tại cấp sơ thẩm, các bên đương sự cũng đã thống nhất xác định tổng giá trị di sản theo chứng thư Thẩm định giá số 66/TĐG-CT ngày 09/11/2021 của Công ty cổ phần T30 thành tiền là 3.195.500.000đ, trong đó giá trị quyền sử dụng đất, giá trị công trình xây dựng trên đất là 137.930.000đ, cây trồng trên đất 1.508.000₫.
Phản tố của bà T2chỉ yêu cầu chia thừa kế đối với quyền sử dụng 02 thửa đất, tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu chia thừa kế đối với quyền sử dụng 02 thửa đất trên. Như vậy do đương sự trong vụ án không yêu cầu chia thừa kế, không có yêu cầu giải quyết đối với phần di sản là nhà cũng như các tài sản khác là công trình trên đất, cây trồng nên cấp sơ thẩm không đặt ra giải quyết là phù hợp. Như vậy phần giá trị di sản tranh chấp có giá là 3.056.062.000đ (Ba tỷ không trăm năm mươi sáu triệu không trăm sáu mươi hai nghìn đồng)
[3.2] Đánh giá tính hợp pháp các bản di chúc của bà Nguyễn Thị L11
Theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị L12 ngày 09/4/2019 và ngày 30/5/2019 tại nhà riêng của bà L13 ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai, công chứng viên Trần Đ1 H1thuộc Văn phòng C2 đã thực hiện thủ tục chứng nhận 02 bản di chúc ghi nhận ý chí của bà L14 việc định đoạt tài sản.
Di chúc ngày 09/4/2019 ghi nhận nội dung bà L15 lại ½ giá trị quyền sử dụng thửa đất số 292 tờ bản đồ số 9 xã V, huyện N, tỉnh Đồng Naitrong khối tài sản chung với ông Nguyễn Văn T23 01 trong những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là ông Nguyễn Văn S1.
Di chúc ngày 30/5/2019 ghi nhận nội dung bà L15 lại ½ giá trị quyền sử dụng thửa đất số 293 tờ bản đồ số 9 xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai trong khối tài sản chung với ông Nguyễn Văn T23 01 trong những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là ông Nguyễn Văn S1.
Căn cứ vào các tài liệu do phòng C2Hội đồng xét xử xác định 02 bản di chúc trên có đầy đủ nội dung, hình thức theo quy định tại các Điều 631, 632 Bộ luật dân sự năm 2015. Thủ tục lập di chúc được thực hiện đúng quy định tại các Điều 636, 639 của BLDS, Điều 56 Luật công chứng năm 2014. Tại di chúc lập ngày 09/4/2019 công chứng viên có sai sót khi ghi nhận thông tin về số của thửa đất dẫn đến sửa chữa (từ thửa 929 thành thửa 292), tuy nhiên do các thông tin khác phù hợp với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên sai sót không làm ảnh hưởng đến giá trị của di chúc.
Về năng lực hành vi dân sự của người để lại di chúc: Các đương sự gồm N T4cho rằng tại thời điểm lập di chúc bà L6 87 tuổi, bệnh nặng, không còn minh mẫn. Xét thấy ngoài lời khai mang tính suy diễn trên, đương sự không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc bà L8 còn minh mẫn tại thời điểm nêu trên. Trong khi đó, tại di chúc và tại bản trình bày ý kiến ngày 01/3/2023, công chứng viên xác định bà L5 năng lực hành vi dân sự theo quy định. Đồng thời người làm chứng trong cả 02 bản di chúc là ông Nguyễn Đ2 T8cũng có lời khai (bút lục 317, 319) xác định tại thời điểm lập di chúc ông T8nhận thấy tinh thần, sức khỏe bà L bình thường. Việc cấp sơ thẩm nhận định công chứng viên có sai sót khi không hướng dẫn bà L đi khám sức khỏe tâm thần là không phù hợp, bởi lẽ đây không phải là quy định mang tính bắt buộc.
Về nội dung của di chúc: Như đã nêu ở trên, di sản của ông T5bà Llà quyền sử dụng 02 thửa số 292, 293 tờ bản đồ số 9 xã V, huyện N, tỉnh Đồng Naivà quyền sở hữu một căn nhà tọa lạc trên thửa đất số 293, được UBND huyện Ncấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà. Như vậy bà L9 đoạt ½ giá trị quyền sử dụng của 02 thửa đất trên là không vượt quá ½ giá trị tài sản trong khối tài sản chung với ông T20
Hội đồng xét xử nhận thấy: Công chứng viên thực hiện chứng thực di chúc có thiếu sót là không ghi cụ thể giờ, phút thực hiện khi ghi nhận thông tin thời điểm thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015. Sai sót này không làm thay đổi bản chất sự việc nhưng công chứng viên cần rút kinh nghiệm, khắc phục. Các lý do mà cấp sơ thẩm nêu ra làm căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị T24 phù hợp với quy định pháp luật nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
Từ các phân tích trên, 02 bản di chúc của bà Nguyễn Thị L16 văn phòng C1chứng nhận vào các ngày ngày 09/4/2019 và ngày 30/5/2019 được lập đúng trình tự, thủ tục; nội dung di chúc không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, thể hiện đúng ý chí định đoạt về tài sản mang tính đơn phương của bà L17 có hiệu lực.
[3.3] Chia thừa kế
Do di chúc của bà L5 giá trị pháp luật nên ông S5 nhận phần di sản của bà L có giá trị thành tiền là 1.528.031.000đ (Một tỷ năm trăm hai mươi tám triệu không trăm ba mươi mốt nghìn đồng). Phần di sản của ông T20 có giá trị thành tiền là 1.528.031.000đ (Một tỷ năm trăm hai mươi tám triệu không trăm ba mươi mốt nghìn đồng) không có di chúc nên được chia theo pháp luật cho 05 đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất, theo đó mỗi kỷ phần có giá trị là 305.606.200đ (Ba trăm lẻ năm triệu sáu trăm lẻ sáu nghìn hai trăm đồng)
Bị đơn bà T3bà T2và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông H9 có yêu cầu nhận di sản bằng hiện vật, bị đơn ông T4yêu cầu được nhận thửa đất số 293 tờ bản đồ số 9 xã V phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn đề nghị được nhận 1 phần thửa số 292 tờ bản đồ số 9, xã V, huyện N 147,6m² giới hạn bởi các mốc 1,2,3,4,9,10,1 (theo Trích lục và đo hiện trạng số 3326/2024 ngày 17/9/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh ĐChi nhánh N (trong đó có 76m² đất ở nông thôn và 71,6m² đất trồng cây lâu năm); đối với 5,4 m² đất trồng cây lâu năm còn lại thuộc thửa 292 do giáp với thửa 293 trên có một phần nhà ông T4đang quản lý thì giao cho ông T22.
Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ghi nhận tại các biên bản ngày 13/5/2021 của TAND huyện Nhơn Trạch, biên bản ngày 31/5/2024 của TAND tỉnh Đồng Nai và Trích lục và đo hiện trạng số 3326/2024 ngày 17/9/2024 thì yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với thực tế sử dụng đất, cơ bản thống nhất với quan điểm của các đồng thừa kế còn lại về hướng xử lý khi chia di sản theo hiện vật. Đề nghị này của nguyên đơn có lợi cho các đồng thừa kế còn lại trong việc chia phần di sản của ông T20 đồng thời đảm bảo khả năng thi hành nên được chấp nhận. Do ông S21 hiện vật là phần diện tích đất 147,6m² nêu trên, nên giao cho ông T4được sử dụng toàn bộ 124 m² đất tại thửa 293 và phần diện tích 5,4 m² còn lại của thửa 292.
Phần di sản ông S5 nhận có giá trị là 1.555.080.000₫ (76m²ONT x 11.700.000đ/m² + 71,6m²CLN x 9.300.000đ/m²). Trong đó chia theo di chúc là 1.528.031.000đ, chia theo pháp luật 27.049.000đ. Do phần giá trị được chia theo pháp luật ít hơn kỷ phần theo quy định pháp luật (27.049.000đ/305.606.200đ) nên ông S10 phải thanh toán lại cho các đồng thừa kế khác.
Do ông S22 nhận 27.049.000đ nên 04 kỷ phần còn lại mỗi kỷ phần có giá trị là 375.245.500₫ (1.500.982.000đ/4 kỷ phần). Ông T4nhận tất cả phần di sản này bằng hiện vật nên có trách nhiệm thanh toán lại cho bà T3người thừa kế của ông H10 phần là 375.245.500₫
Riêng bà T2xác định chuyển cho ông T4nhận phần di sản được chia từ thửa 293 nên ông T4có trách nhiệm thanh toán cho bà T2phần giá trị di sản được chia từ thửa 292. Do ông S4 được hưởng theo di chúc ½ giá trị thửa 292 (76m²ONT x 11.700.000đ/m² + 77m²CLN x 9.300.000đ/m² = 1.605.300.000₫ x ½ = 802.650.000₫), nên khi chia phần còn lại theo pháp luật cho 05 đồng thừa kế thì bà T2được nhận là 1/5 phần giá trị còn lại thành tiền là 160.530.000₫ (802.650.000₫ x 1/5).
Từ tất cả các phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn S19 bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí, chi phí tố tụng:
[4.1] Án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Người được hưởng di sản thừa kế phải chịu án phí tương ứng với giá trị phần di sản được hưởng, cụ thể: ông T4nhận phần tài sản có giá trị 589.961.000₫ (375.245.500đ + (375.245.500₫ - 160.530.000₫)) nên phải chịu án phí là 27.598.000đ; bà T3nhận phần tài sản có giá trị 375.245.500đ nên phải chịu án phí là 18.762.000đ; Bà Nguyễn Thị T1bà Nguyễn Thị Phúc Công Nguyễn Hồng Â2 ông Nguyễn Hồng A1 nhận phần tài sản có giá trị 375.245.500₫ nên phải chịu án phí là 18.762.000đ.
Ông S và bà T2là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4.2] Chi phí tố tụng: Ông Stự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng nên không đặt ra giải quyết.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa: Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn S19 bản án sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Áp dụng các Điều 357; 468; 611; 612; 613; 624, 626, 630, 636, 639, 643, 649, 651, 659; 660 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 56 Luật công chứng năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn S13 việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”.
- Chia cho ông Nguyễn Văn S23 sử dụng diện tích đất 147,6m² là 1 phần thửa số 292 tờ bản đồ số 9, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai (trong đó có 76m² đất ở nông thôn, 71,6m² đất trồng cây lâu năm). Diện tích đất được giới hạn bởi các mốc 1,2,3,4,9,10,1 theo Trích lục và đo hiện trạng số 3326/2024 ngày 17/9/2024 của Văn phòng Đ3 - chi nhánh N1
- Án phí:
- Về chi phí tố tụng: Ông Stự nguyện chịu toàn bộ (đã thực hiện xong)
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Chấp nhận 1 phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị T15 việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”, không chấp nhận phần yêu cầu xác định 02 di chúc của bà Nguyễn Thị L7 ngày 09/4/2019 và ngày 30/5/1019 được Văn phòng C1chứng nhận số 0997 ngày 09/4/2019 và số 1764 ngày 31/5/2019 là không hợp pháp.
Chia cho ông Nguyễn Đình T16 quyền sử dụng diện tích đất gồm 124m² thuộc thửa số 293 và 5,4m² là 01 phần thửa 292 cùng tờ bản đồ 09 xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai Phần đất trên được giới hạn bởi các mốc 4,5,6,7,8,9,4 theo Trích lục và đo hiện trạng số 3326/2024 ngày 17/9/2024 của Văn phòng Đ3 - chi nhánh N1.
Đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Đình T18 trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị T25 tiền 375.245.500đ (Ba trăm bảy mươi lăm triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn năm trăm đồng); thanh toán cho bà Nguyễn Thị T26 tiền 160.530.000đ (Một trăm sáu mươi triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).
Ông Nguyễn Đình T18 trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị T27 Nguyễn Thị Phúc Công Nguyễn Hồng Â2 ông Nguyễn Hồng A1 số tiền 375.245.500₫ (Ba trăm bảy mươi lăm triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn năm trăm đồng)
Miễn án phí dân sự cho ông Nguyễn Văn S24 Nguyễn Thị Tuyết . Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T28 5(Năm triệu ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001190 ngày 18/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
Ông Nguyễn Đình T29 chịu án phí dân sự sơ thẩm là 27.598.000₫ (Hai mươi bảy triệu năm trăm chín mươi tám nghìn đồng)
Bà Nguyễn Thị T17 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 18.762.000₫ (Mười tám triệu bảy trăm sáu mươi hai nghìn đồng)
Bà Nguyễn Thị T1bà Nguyễn Thị Phúc Công Nguyễn Hồng Â2 ông Nguyễn Hồng A1 phải chịu án phí là 18.762.000₫ (Mười tám triệu bảy trăm sáu mươi hai nghìn đồng)
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Sự |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Các Thẩm phán | Thẩm phán – Chủ tọa | |
| Nguyễn Văn Nam | Lê Kim Đó | Nguyễn Công Sự |
Bản án số 87/2025/DS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp di sản thừa kế
- Số bản án: 87/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong các ngày 14 và 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 311/2023/TLPT-DS ngày 01/12/2023 về việc: “Tranh chấp di sản thừa kế”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch bị kháng cáo.
