|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2025/DS-PT Ngày 18/3/2025 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Tấn
Thẩm phán: Ông Võ Văn Linh
Các Thẩm phán: Bà Đặng Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 99/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 162/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1971.
Người đại diện ủy quyền cho ông K: Bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1971. (có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã C, thành phố P, Kiên Giang.
Chỗ ở hiện nay: A L, phường D, Tp , Kiên Giang.
- Bị đơn:
1. Bà Tô Thị H, sinh năm 1962. Địa chỉ: Khu phố E, phường D, thành phố P, Kiên Giang. (có mặt)
2. Ông Phạm Hồng S, sinh năm 1951. Địa chỉ: Tổ C, ấp S, xã C, thành phố P, Kiên Giang. (có mặt)
Người đại diện cho ông S: Anh Nguyễn Vũ H1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số A, đường C, phường D, thành phố P, Kiên Giang. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phạm Thanh T, sinh năm 1980. (có đơn xin vắng mặt)
- Anh Nguyễn Thanh C, sinh năm 1980. (có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ A, khu phố E, phường D, thành phố P, Kiên Giang.
- Bà Lê Thị H2 (vợ ông S), sinh năm 1952.
Người đại diện ủy quyền cho bà H2: Ông Phạm Hồng S, sinh năm 1951.
Cùng địa chỉ: Tổ C, ấp S, xã C, thành phố P, Kiên Giang. (có mặt)
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Hồng S, bà Tô Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày: Năm 2018 vợ chồng ông K, bà O có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Trung K1, vợ chồng ông K, bà O đồng ý với ông K1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 tất cả 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 177, tờ bản đồ 43, diện tích 81m², tọa lạc tại khu phố E, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang (đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 543376, vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH06142 được Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 13/4/2015 đứng tên ông Nguyễn Trung K1). Giá chuyển nhượng là 410.000.000 đồng.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 174, tờ bản đồ 43, diện tích 174m², tọa lạc tại khu phố E, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang (đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 543375, vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH06141 được Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 13/4/2015 đứng tên ông Nguyễn Trung K1). Giá chuyển nhượng là 870.000.000 đồng. Cả hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vợ chồng ông K, bà O đã thanh toán đủ cho ông K1, ông K1 cũng giao đất cho vợ chồng ông K, bà O, nhưng vợ chồng ông K, bà O cũng chưa xây dựng gì trên đất. Sau đó, vợ chồng ông K, bà O làm thủ tục nộp hồ sơ vào Chi nhánh Văn phòng C1. Đến ngày 26/10/2018 thì vợ chồng ông K, bà O được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 247875, thửa đất số 177, tờ bản đồ số 43, diện tích 81m², tọa lạc khu phố E, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang đứng tên Trần Văn K, được cấp ngày 26/10/2018.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 247874, thửa đất số 174, tờ bản đồ số 43, diện tích 173m², tọa lạc khu phố E, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang đứng tên Trần Văn K, được cấp ngày 26/10/2018.
Sau khi vợ chồng ông K, bà O được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thì vợ chồng ông K, bà O định xây nhà kho trên hai thửa đất này, lúc chuẩn bị xây dựng nhà kho vợ chồng ông K, bà O yêu cầu Phòng T3, đo đạc lại hiện trạng đúng diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mới phát hiện ra bà Tô Thị H và ông Phạm Hồng S lấn qua diện tích đất của vợ chồng ông K và bà O. Sau đó, vợ chồng ông K, bà O có gặp bà H, ông S nói có lấn qua đất của vợ chồng ông K, bà O thì bà H, ông S bảo rằng chỉ cất theo móng cũ, chứ không lấn qua đất của ông K, bà O. Lúc đo đạc mới phát hiện bà H xây dựng qua thửa đất có diện tích 81m² lấn qua 3,5m², còn ông S xây dựng qua thửa đất có diện tích 173m² lấn qua 26,6m². Mặc dù, vợ chồng ông K, bà O yêu cầu nhiều lần, nhưng bà H, ông S không trả đúng với diện tích đất bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được cấp. Vợ chồng ông K, bà O mới tiếp tục yêu cầu Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện P hòa giải cơ sở, đến ngày 10/5/2019 Ủy ban nhân dân thị trấn D tổ chức hòa giải, thì bà H, ông S không thừa nhận lấn qua diện tích đất của ông K, bà O.
Nay vợ chồng ông K, bà O khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, buộc bà Tô Thị H trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế là 1,8m² tại thửa đất có diện tích đất 81m², và 02m² tại thửa đất có diện tích 173m², tọa lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Buộc ông Phạm Hồng S phải trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế là 25,9m² tại thửa đất có diện tích 173m², tọa lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, cả hai thửa đất nêu trên của vợ chồng ông K, bà O đều liền kề nhau.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Hồng S1 trình bày:
Năm 2014 ông S1 có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Trần Văn N, bà Lê Kim S2, hai bên có lập hợp đồng mua đất nhà, tọa lạc tại khu phố E, thị trấn D (nay là phường D), huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang, nhà lợp T1 và nền móng, có đường hẽm vào nhà là 2m, mặt trước 8,2m; mặt sau 9,6m; dài hai bên là 16m + 16m, giá chuyển nhượng là 380.000.000 đồng, tổng diện tích 142,4m², ông đã đặt cọc cho vợ chồng ông N 50.000.000 đồng, số tiền còn lại 330.000.000 đồng, ông cũng trả hết cho vợ chồng ông N, thì vợ chồng ông N đã giao đất nhà cho ông sử dụng ổn định, vợ chồng ông N sẽ hỗ trợ về mọi mặt giấy tờ khi ông cần.
Khi đến nhận chuyển nhượng, ông cũng hỏi những người gần đó họ bảo rằng vợ chồng ông N đã ở trên căn nhà này ổn định không ai tranh chấp. Sau khi nhận nhà về ở được một thời gian, đến tháng 6 mùa mưa nước ngập lên đến nền nhà, ông cũng đến báo với Ban N1 và Ban Q, về việc sửa lại căn nhà do bị nước ngập, do không thể đào móng xây dựng được, nên ông nâng lên móng cũ thêm 2m lớp đá sửa lại căn nhà bị nước ngập, do đó ông sửa lại thành nhà tiền chế. Ông vẫn sử dụng móng cũ của căn nhà vợ chồng ông N để xây thêm 2m lớp đá lên, chứ ông cũng không xây nới, vì xung quanh toàn là nước nên việc xây dựng rất khó khăn. Hiện nay các trụ hàng rào cũ vẫn còn.
Hiện nay đất ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lý do vợ chồng ông N hứa làm thủ tục khi nào Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông N, thì vợ chồng ông N sẽ tách thửa qua cho vợ chồng ông, nhưng chờ mãi không thấy gì. Đến năm 2019 ông tự đi làm thủ tục, thì UBND thị trấn D cho rằng đất này đang tranh chấp, nên không làm thủ tục được. Ngày 10/5/2019 UBND thị trấn D có mời các bên đến hòa giải, ông cũng trình bày nhà đất ông mua đã sử dụng ổn định đã lâu không ai tranh chấp, lý do ông K tranh chấp với ông đã lấn qua ông K 26,6m² là không có cơ sở. Ông yêu cầu Tòa án giữ nguyên hiện trạng diện tích 142,4m² cho ông.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Tô Thị H và người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày:
Năm 1999 bà H được Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho bà H diện tích 6m x 18m = 108m², tọa lạc tại khu phố E, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang, thời điểm này bà H chưa cất nhà, tạm thời xây móng đá. Cho đến năm 2003 bà H mới làm thủ tục được Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M989293, diện tích 108m², cấp ngày 03/6/2003. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ), đến tháng 02/2004 bà H mới cất nhà cấp 4 để ở, không ai tranh chấp gì.
Theo bà H biết, năm 2018 vợ chồng ông K nhận chuyển nhượng phần đất liền kề với bà H, vợ chồng ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên vợ chồng ông K kêu thợ đến xây móng phần đất đã được cấp giấy cho bà H, mới hỏi mấy người thợ nếu đào móng sát móng, nếu xây lên là đụng mái Tôn nhà bà H, thì bà H không đồng ý, khi gặp ông K bảo rằng không có sao, năm 2019 ông K mới kiện đến Ủy ban nhân dân thị trấn D giải quyết, bà H cũng trình bày sự việc đất bà H đang sử dụng ổn định mà ông K bảo bà H lấn qua, thì bà H không đồng ý. Do đó diện tích đất Nhà nước cấp cho bà H là rõ ràng. Vợ chồng ông K yêu cầu bà H phải trả lại diện tích theo đo đạc thực tế 3,8m2, là không có căn cứ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thanh T, anh Nguyễn Thanh C trình bày:
Năm 2014 ông S1 có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Trần Văn N, bà Lê Kim S2, do vợ chồng anh chị không có nhà ở, nên ông S1 cha ruột chị T kêu về ở, lúc đó nhà thiếc, vợ chồng anh chị chỉ nhớ diện tích khoảng hơn 140m², nhưng thực tế chiều dài 16m, mặt trước hơn 8m, mặt sau hơn 9m, việc chuyển nhượng có làm giấy tay hay ra công chứng hay không thì vợ chồng anh chị không biết. Vợ chồng anh chị xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H2 trình bày:
Thống nhất với trình bày của ông S1 và xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, đối với bà Tô Thị H và ông Phạm Hồng S.
- Buộc bà Tô Thị H tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất (một phần tường rào, móng xây đá, cột gạch, tường xây gạch, khung sắt ống cao 2,5m), trả lại cho ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O diện tích đất 1,8m², thuộc thửa đất số 177, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc và Tờ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số 128 ngày 17/3/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C1, có hình 20-21-12.
- Buộc bà Tô Thị H tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất (mái T1 phía sau nhà bà H lấn không gian đất) trả lại cho ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O diện tích đất 02m², thuộc thửa đất số 174, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc và Tờ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số 128 ngày 17/3/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C1, có hình 12-13-14-15.
- Buộc vợ chồng ông Phạm Hồng S, bà Lê Thị H2 tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất (một phần mái che nhà trước và phần nhà có kết cấu: nền lát gạch nhám, vách khung sắt, đòn tay kèo sắt, mái Tôn sóng vuông; một phần hàng rào có kết cấu: cổng rào, móng xây đá, cột gạch, cổng khung sắt) trả lại cho ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O diện tích đất 25,9m², thuộc thửa đất số 174, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc và Tờ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số 128 ngày 17/3/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C1, có hình 7-9-10-8.
- Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O, hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời cho ông Phạm Hồng S số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023, bị đơn ông Nguyễn Hồng S1 có đơn kháng cáo sửa bản án sơ thẩm với nội dung:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K, bà Nguyễn Thị Kiều O.
Giữ nguyên hiện trạng diện tích đất 25,9m² cho ông Phạm Hồng S được toàn quyền quản lý và sử dụng.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023, bị đơn bà Tô Thị H có đơn kháng cáo sửa bản án sơ thẩm với nội dung:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K, bà Nguyễn Thị Kiều O.
Giữ nguyên hiện trạng diện tích đất 1,8m² thửa 177 và diện tích 2m² thửa 174 nằm trong diện tích đất 108m² (ngang 6m, dài 18m) cho bà Tô Thị H được toàn quyền quản lý và sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm
- Bị đơn ông Nguyễn Hồng S1, bà Tô Thị H giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O không đồng ý với kháng cáo của các bị đơn, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các đương sự không tự hòa giải với nhau được, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến kết luận vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Nội dung kháng cáo của các bị đơn có căn cứ xem xét. Đề nghị HĐXX phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Trần Văn K, bà Nguyễn Thị Kiều O yêu cầu bị đơn bà Tô Thị H, ông Ngô Hồng S3 trả lại quyền sử dụng đất. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là phù hợp quy định của pháp luật.
[1.2] Sự vắng mặt của các đương sự:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thanh T, anh Nguyễn Thanh C và bà Lê Thị H2, đều có đơn xin xét xử vắng mặt
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, tài liệu chứng cứ do các bên đương sự giao nộp và Tòa án thu thập được thể hiện: Vợ chồng ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O tranh chấp diện tích đất theo đo đạc thực tế 1,8m²; 02m² đối với bà Tô Thị H và tranh chấp diện tích đất theo đo đạc thực tế 25,9m² với ông Phạm Hồng S, các diện tích đất này đều tọa lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, Kiên Giang. Ông Phạm Hồng S cho rằng diện tích tranh chấp 25,9m² nằm trong phần đất của ông chuyển nhượng của vợ chồng bà N, ông S2 từ năm 2014 sử dụng từ đó đến nay không lấn chiếm, còn bà Tô Thị H cũng cho rằng diện tích đất tranh chấp 1,8m²; 02m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà, từ đó các bên phát sinh tranh chấp.
* Hội đồng xét xử xét thấy:
Diện tích 25,9m², nằm trong diện tích 173m², thuộc thửa 174, tở bản đồ số 43, tọa lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, Kiên Giang, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp cho ông Trần Văn K ngày 26/10/2018, có nguồn gốc của ông Phạm Hồng S4 chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn M vào ngày 19/4/2003 diện tích chuyển nhượng 105m² (ngang 7m x 15m ); ngày 8/5/2003 ông Huỳnh Văn M chuyển nhượng cho bà Tăng Kim T2 sử dụng, đến năm 2008 bà T2 kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đăng ký 173m² tăng so với diện tích chuyển nhượng là 68m2, năm 2011 bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2014 bà T2 chuyển nhượng toàn bộ phần đất trên cho ông Trương Hồng D; ông D xin cấp đổi giấy chứng nhận và được cấp lại giấy chứng nhận ngày 13/4/2015 với diện tích, số tờ không thay đổi. Ngày 12/2/2018, ông D lập hợp đồng chuyển nhượng lại thừa đất trên cho ông Nguyễn Trung K1; đến ngày 13/7/2018, ông K1 lập hợp đồng chuyển nhượng lại cho ông Trần Văn K, ngày 02/10/2018, ông K có đơn xin cấp đổi giấy chứng nhận nêu trên và ngày 26/10/2018, được Sở TNMT tỉnh K cấp đồi lại giấy chứng nhận đứng tên ông K.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Hồng S cho rằng khi nhận chuyển nhượng nhà đất của vợ chồng ông Trần Văn N, bà Lê Kim S2 năm 2014 đã có móng nhà sẵn, nên ông S sử dụng ổn định đến nay, không có lấn sang phần đất của ông K và bà O. Tuy nhiên theo lời khai của vợ chồng ông N, bà S2 cho rằng, bán nhà đất cho ông S là bán buôn đuôi, có kéo thước đo chỉ số bao nhiêu thì ghi chiều ngang, chiều dài, cũng không tính diện tích đất bao nhiêu, hiện nay diện tích đất này cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xét diện tích đất tranh chấp 25,9m² giữa ông Trần Văn K và ông Phạm Hồng S theo biên bản đo đạt thực tế và công văn trả lời của Cơ quan chuyên môn thì diện tích đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn K. Nhưng toàn bộ phần đất tranh chấp hiện nay do gia đình ông S cất nhà sử dụng từ năm 2014 đến nay. Ông K xác định khi chuyển nhượng đất với ông K1 vào năm 2018 hiện trạng phần đất không có gì thay đổi. Do diện tích ban đầu so với diện tích xin cấp giấy có sự trên lệch tăng 68m², khi chuyễn nhượng chỉ căn cứ vào giấy không đo đạt thực tế, nên việc ông K căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất buộc ông S trả đất là chưa đủ căn cứ pháp lý không phù hợp thực tế quá trình sử dụng đất của các bên. Nghị nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K.
Nếu ông K cho rằng ông K1 chuyển nhượng nhà đất cho ông, không đủ diện tích như hợp đồng chuyển nhượng, thì ông K có quyền yêu cầu ông K1 ở một vụ kiện khác. Diện tích đất 1,8m², thuộc thửa 177, tờ bản đồ số 43; nằm trong tổng diện tích đất 81m², giáp ranh đất với bà Tô Thị H, hiện ông K tranh chấp với bà H. Nguồn gốc đất của bà H được UBND huyện P cấp năm 1999 diện tích 108m² (6mx18m), bà H sử dụng cất nhà xây trụ rào từ năm 1999. Phần đất của ông K có nguồn gốc của bà Lê Thị Ngọc H3 được Nhà nước giao đất ở từ năm 1999, đến năm 2001 bà H3 chuyển nhượng bằng giấy viết tay cho ông Trần Văn P, đến ngày 15/06/2002 ông P tiếp tục chuyển nhượng cho bà Tăng Kim X đến năm 2003 bà X kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình thực hiện thủ tục đo đạc thửa 177 cho bà Tăng Kim X, thì bà Tô Thị H có ký giáp ranh vào ngày 17/12/2008 (BL376). Đến năm 2014 bà X chuyển nhượng toàn bộ phần đất trên cho ông Trương Hồng D; ông D xin cấp đổi giấy chứng nhận và được cấp lại giấy chứng nhận ngày 13/4/2015 với diện tích, số tờ không thay đổi. Ngày 12/2/2018, ông D lập hợp đồng chuyển nhượng lại thừa đất trên cho ông Nguyễn Trung K1; đến ngày 13/7/2018, ông K1 lập hợp đồng chuyển nhượng lại cho ông Trần Văn K, ngày 02/10/2018, ông K có đơn xin cấp đổi giấy chứng nhận nêu trên và ngày 26/10/2018, được Sở TNMT tỉnh K cấp đồi lại giấy chứng nhận đứng tên ông K.
Xét diện tích đất tranh chấp 1,8m² giữa ông Trần Văn K và bà Tô Thị H theo biên bản đo đạt thực tế và công văn trả lời của Cơ quan chuyên môn thì diện tích đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn K. Nhưng toàn bộ phần đất tranh chấp hiện nay do gia đình bà H sử dụng xây trụ hàng rào bê tông từ năm 2003 đến nay không có sự tranh chấp với các chủ đất củ. Ông K xác định khi chuyển nhượng đất với ông K1 vào năm 2018 hiện trạng phần đất không có gì thay đổi. Nên việc ông K căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất buộc bà H trả đất là chưa đủ căn cứ pháp lý không phù hợp thực tế quá trình sử dụng đất của các bên. Nghị nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K.
Nếu ông K cho rằng ông K1 chuyển nhượng nhà đất cho ông, không đủ diện tích như hợp đồng chuyển nhượng, thì ông K có quyền yêu cầu ông K1 ở một vụ kiện khác.
Đối với diện tích đất 2m² nằm trong tổng diện tích đất 173m², thuộc thửa 174 giáp ranh đất với bà Tô Thị H quá trình thực hiện thủ tục đo đạc thửa 174, bà Tô Thị H có ký giáp ranh vào ngày 26/9/2008 (BL 385). Như vậy từ năm 2008 thửa 174 đã có ranh giới ổn định, được các hộ giáp ranh ký xác nhận, như nhận định nêu trên. Quá trình sử dụng bà H lợp mái Tôn lấn không gian phần đất tranh chấp 2m², việc buộc tháo dỡ, di dời không làm ảnh hưởng đến nhà chính.
Căn cứ Công văn số 675 ngày 16/6/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K xác định, diện tích đất tranh chấp 2m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp cho ông Trần Văn K ngày 26/10/2018. Nên việc ông K và bà O khởi kiện yêu cầu bà H trả lại các diện tích đất tranh chấp nêu trên, là phù hợp theo quy định tại khoản 5, 7 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà H cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh diện tích đất 2m² bà H sử dụng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H, nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét ý kiến bà H, để giữ nguyên hiện trạng phần đất tranh chấp cho bà H sử dụng. Tại phiên tòa bà H tự nguyện tháo dở phần mái tôn lấn chiếm không gian 2m² trên phần đất của ông K, bà oanh. Nên HĐXX phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện này.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông S và bà H đưa ra được tình tiết, chứng cứ mới để chứng minh việc kháng cáo của ông, bà là có căn cứ. Do đó, ông S, bà H yêu cầu sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc là có căn cứ để chấp nhận.
Vì vậy, sau khi thảo thuận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị đơn ông Phạm Hồng S, bà Tô Thị H. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
[2] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Hồng S, bà Tô Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bà Tô Thị H và ông Phạm Hồng S, là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí. Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nên miễn án phí cho bà Tô Thị H và ông Phạm Hồng S.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo của ông Phạm Hồng S, bà Tô Thị H được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, nên ông S, bà H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà ông S, bà H đã nộp.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.278.000 đồng theo hóa đơn số 0000290 ngày 22/3/2021. Chi phí định giá tài sản là 8.000.000 đồng theo phiếu thu ngày 21/01/2021. Tổng cộng 12.278.000 đồng.
Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O được chấp nhận một phần, ông K và O phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp số tiền 6.139.000 đồng. Ông K bà O đã nộp xong.
Bà Tô Thị H và ông Phạm Hồng S phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản lần 2 số tiền bà H, ông S đã nộp xong.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 100, 166, 170, 202, 203 Luật đất đai năm 2013;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Hồng S.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Tô Thị H.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O, về việc yêu cầu vợ chồng ông Phạm Hồng S, bà Lê Thị H2 tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất (một phần mái che nhà trước và phần nhà có kết cấu: nền lát gạch nhám, vách khung sắt, đòn tay kèo sắt, mái Tôn sóng vuông; một phần hàng rào có kết cấu: cổng rào, móng xây đá, cột gạch, cổng khung sắt) trả lại cho ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O diện tích đất 25,9m², thuộc thửa đất số 174, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc và Tờ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số 128 ngày 17/3/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C1, có hình 7-9-10-8.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O, về việc yêu cầu bà Tô Thị H tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất (một phần tường rào, móng xây đá, cột gạch, tường xây gạch, khung sắt ống cao 2,5m), trả lại cho ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O diện tích đất 1,8m², thuộc thửa đất số 177, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc và Tờ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số 128 ngày 17/3/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C1, có hình 20-21-12.
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O, về việc yêu cầu Buộc bà Tô Thị H tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất (mái T1 phía sau nhà bà H lấn không gian đất) trả lại cho ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O diện tích đất 2m², thuộc thửa đất số 174, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc và Tờ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số 128 ngày 17/3/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C1, có hình 12-13-14-15.
4. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O số tiền 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006937 ngày 12/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.
Bà Tô Thị H và ông Phạm Hồng S được miễn án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Tô Thị H và ông Phạm Hồng S được miễn án phí.
5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.278.000 đồng theo hóa đơn số 0000290 ngày 22/3/2021. Chi phí định giá tài sản là 8.000.000 đồng theo phiếu thu ngày 21/01/2021. Tổng cộng 12.278.000 đồng.
Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Kiều O được chấp nhận một phần, ông K và O phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp số tiền 6.139.000 đồng. Ông K, bà O đã nộp xong.
Bà Tô Thị H và ông Phạm Hồng S phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản lần 2 bà H, ông S đã nộp xong.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Tấn |
Bản án số 87/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 87/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vợ chồng ông K buộc bà Tô Thị H trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế là l,8m2 tại thửa đất có diện tích đất 81m2, và 02m2 tại thửa đất có diện tích 1731112, tọa lạc tại khu phố E, phường D, thành phố p, tỉnh Kiên Giang. Buộc ông Phạm Hồng s phải trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế là 25,9m2 tại thửa đất có diện tích 1731112, tọa lạc tại khu phố E, phường D, thành phố p, tỉnh Kiên Giang, cả hai thửa đất nêu trên của vợ chồng ông K, bà o đều liền kề nhau.
