Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HSST

Ngày: 14-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Võ Trường Tam .
Ông Đặng Văn Vững.
– Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Phan Sâm Rin – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/TLST - HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Tăng Thắng P, sinh ngày: 16/8/1988.

Tên gọi khác: Khoai Mì.

Nơi thường trú: B T, Phường D, Quận A, Tp .; Nơi ở hiện tại: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Hoa; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tăng H (đã chết) và bà Châu Lệ Y; Bản thân có vợ tên Lâm Thị L, có 01 con, sinh năm: 2022;

Tiền án: Bản án số 152/2009/HSST ngày 20/8/2009 của Tòa án nhân dân Quận 11, Tp., xử phạt 03 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành án xong ngày 20/7/2011; Bản án số 94/2014/HSST ngày 06/8/2014 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Tp., xử phạt 07 năm 06 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành án xong ngày 21/7/2019, chưa thực hiện trách nhiệm bồi thường dân sự và án phí dân sự sơ thẩm, nên chưa được xóa án tích;

Tiền sự: Quyết định số 711/QĐ-TA ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Tp . áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 08/12/2021; Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 16/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 21/3/2024.

Nhân thân: Ngày 22/11/2011 bị Công an P1, Quận C, Tp., xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 01/3/2012 của Ủy ban nhân dân Quận A, Tp . đưa vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng. Chấp hành đến ngày 18/01/2013 bị tạm đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, lý do: đương sự có liên quan đến vụ án hình sự.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đàm Thị Kim L1, sinh năm: 1965 (vắng mặt).

Cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Người chứng kiến:

  • 1/ Lê Trường G, sinh năm: 1987 (vắng mặt).
  • Cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
  • 2/ Nguyễn Gia B, sinh năm: 2003 (vắng mặt).
  • Cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
  • 3/ Nguyễn Văn T, sinh năm: 1996 (vắng mặt).
  • Cư trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên khoảng 15 giờ ngày 07/7/2024, Tăng Thắng P là người đã tái phạm mượn xe mô tô của 01 người bạn (không rõ nhân thân và biển số xe) đi từ nhà tại ấp L, xã L, huyện C, đến khu vực cầu N, thuộc Quận H, Tp. gặp 01 đối tượng nam (không rõ lai lịch) mua 1.200.000 đồng ma túy đá, gồm: 01 gói ma túy đá giá 800.000 đồng (được đựng trong gói nylon có rãnh khép viền màu trắng); 01 gói ma túy đá giá 400.000 đồng (được đựng trong gói nylon có rãnh khép viền màu đỏ) và 01 nỏ thủy tinh với giá 40.000 đồng. Khi về đến nhà, P lấy gói ma túy viền màu đỏ ra sử dụng một phần, phần còn lại cùng với gói ma túy có rãnh khép viền màu trắng P cất giấu tại nhà, mục đích để tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 19 giờ ngày 09/7/2024, Công an xã L, huyện C đến kiểm tra hành chính phát hiện số ma túy trên nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật.

Tại kết luận giám định số 486/KL-KTHS ngày 16/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ và 01 (một) túi nylon có rãnh khép được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 16,3913 gam, loại Methamphetamine.

H1 lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 15,9173 gam được đóng gói niêm phong số 486.

Tại Bản cáo trạng số 86/CT-VKSCG ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Tăng Thắng P từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 15,9173 gam được đóng gói niêm phong số 486 và 01 (một) nỏ thuỷ tinh, 01 (một) bình nhựa, 01 (một) ống nhựa, 01 (một) bật lửa và 01 (một) hộp kim loại hình tròn màu trắng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Tăng Thắng P khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 07/7/2024, bị cáo P đến khu vực cầu N, thuộc Quận H, Tp. gặp 01 đối tượng nam (không rõ nhân thân) mua 1.200.000 đồng ma túy đá đựng trong 02 gói nylon có rãnh khép và 01 nỏ thủy tinh với giá 40.000 đồng. Sau khi mua ma túy, bị cáo P đi về nhà thuê tại ấp L, xã L, huyện C, lấy một ít ma túy ra sử dụng, phần còn lại cất giấu tại nhà để tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 19 giờ ngày 09/7/2024, Công an xã L, huyện C kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang bị cáo P tàng trữ trái phép chất ma túy. Theo Kết luận giám định số: 486/KL-KTHS ngày 16/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: khối lượng ma túy bị cáo P tàng trữ là 16,3913 gam loại Methamphetamine. Ma túy bị cáo P tàng trữ là loại Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, xét thấy bị cáo P có hai tiền án, cụ thể: Bản án số 152/2009/HSST ngày 20/8/2009 của Tòa án nhân dân Quận 11, Tp ., xử phạt 03 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và Bản án số 94/2014/HSST ngày 06/8/2014 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Tp., xử phạt 07 năm 06 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành án xong ngày 21/7/2019, nhưng chưa thực hiện trách nhiệm bồi thường dân sự và án phí dân sự sơ thẩm, nên chưa được xóa án tích. Ngày 09/7/2024 bị cáo lại phạm tội với lỗi cố ý, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự và là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm, bị cáo thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý . . ., nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ngoài ra việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt thỏa đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Xét về nhân thân, bị cáo có hai tiền án như đã phân tích tại phần [2], bị cáo có hai tiền sự: Quyết định số 711/QĐ-TA ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Tp. áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng và Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 16/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 21/3/2024 và về nhân thân: Ngày 22/11/2011 bị Công an P1, Quận C, Tp., xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và Quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 01/3/2012 của Ủy ban nhân dân Quận A, Tp. đưa vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng. Do đó xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[7] Đối với đối tượng nam giới (không rõ nhân thân) theo bị cáo khai bán ma túy cho bị cáo vào ngày 07/7/2024 tại khu vực cầu N thuộc địa bàn Quận H, Tp . có dấu hiệu phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C đã cố Công văn số 429/CV-CSĐT, ngày 23/10/2024 thông báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an Q, Tp . xác minh làm rõ, là phù hợp. Đối với bà Đàm Thị Kim L1 là chủ nhà cho bị cáo thuê, tuy nhiên bà L1 không biết bị cáo sử dụng nhà để tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý, là phù hợp.

[8] Về tang vật thu giữ: Đối với ma túy còn lại sau giám định có khối lượng: 15,9173 gam được đóng gói niêm phong số 486, xét thấy là chất cấm, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) nỏ thuỷ tinh, 01 (một) bình nhựa, 01 (một) ống nhựa, 01 (một) bật lửa và 01 (một) hộp kim loại hình tròn màu trắng, là dụng cụ dùng sử dụng ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy, xét thấy không có giá trị sử dụng và giá trị sử dụng thấp, nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

[9] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Tăng Thắng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Tăng Thắng P 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/7/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (14/11/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy: ma túy còn lại sau giám định có khối lượng: 15,9173 gam được đóng gói niêm phong số 486 và 01 (một) nỏ thuỷ tinh, 01 (một) bình nhựa, 01 (một) ống nhựa, 01 (một) bật lửa và 01 (một) hộp kim loại hình tròn màu trắng.

Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 60/QĐ-VKSCG, ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Cần Giuộc;
  • -CA huyện Cần Giuộc;
  • -THADS huyện Cần Giuộc;
  • -Bị cáo; đương sự;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 87/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tăng Thắng P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger