TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2024/HS-ST Ngày 18 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Xuân Dũng - ông Trần Văn Hân
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Bá Kiên - Chức vụ: Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: ông Hồ Văn Nam - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm phòng xử án trực tuyến Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An: Điểm cầu thành phần: Phòng xử án trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh N xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2024/TLST-HS, ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/ QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Xuân C (tên gọi khác: Không: Giới tính: Nam), sinh ngày 16 tháng 6 năm 1976 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm A, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An: Nghề nghiệp: Làm ruộng: Trình độ học vấn: 3/12: Đảng, đoàn thể: Không: Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: Không: Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân T (chết) và bà Nguyễn Thị M: Vợ: Hồ Thị B: Con: có 3 con: Tiền án: Ngày 10/3/2021 bị Toà án nhân dân huyện Yên Thành xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đã chấp hành xong ngày 08/6/2022. Tiền sự: Không: Nhân thân: Ngày 25/7/2016, bị Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đã chấp hành xong ngày 28/4/2017. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2024 hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, Lê Xuân C đi nhờ xe của một người đàn ông (không rõ lai lịch) từ khu vực gần nhà mình đến khu vực ngã tư xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Tại đây, C gặp một người đàn ông lãi xe ôm đang đứng chờ nên C đến gần và hỏi “Anh có hồng không” (có nghĩa là C hỏi mua ma tuý của người này). Người này trả lời “ có, lấy mấy”, C nói “em lấy hai trăm” người này nói “ hai trăm ba con, chờ tí”. Lê Xuân C đưa người đnà ông này số tiền 200.000 đồng, người này cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đi đâu không rõ. Khoảng 5 phút sau, quay lại và đưa cho C 01 gói nilong màu trắng viền xanh, bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng. C cầm gói ma tuý rồi đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đi về nhà ở của mình. Về đến nhà, C cất gói ma tuý này tại vị trí nóc tủ quần áo phòng kho của nhà mình, mục đích sử dụng dần. Vì bận công việc, C chưa sử dụng số ma tuý trên. Đến khoảng 3 giờ 15 phút ngày 04/6/2024, C lấy số ma tuý này ra để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Y bắt quả tang và tiến hành lập biên bản, thu giữa và niêm phong vật chứng theo đúng quy định.
Ngày 04/6/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định thu giữ của Lê Xuân C có khối lượng 0,495gam. Hội đồng đã lấy 0,2gam chất rắn gửi giám định, còn lại là 0,295g được niêm phong lại cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu.
Tại bản Kết luận giám định số 624/KL-KTHS (D2-MT) ngày 08 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất rắn màu hồng thu giữ của Lê Xuân C gửi đi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,495g”.
Tại bản cáo trạng số: 95/CT-VKS-YT ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã truy tố Lê Xuân C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h Điều 52 BLHS, xử phạt Lê Xuân C từ 21 đến 24 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung vì bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn;
-Vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ buộc tội: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Chung đã có hành vi mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, khối lượng ma túy được xác định là 0,495 gam Methamphetamine. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Ngoài ra, theo lời khai của Lê Xuân C thì người đàn ông lái xe ôm tại khu vực ngã tư xã H, huyện Y đã bán ma tuý cho C; người đàn ông đã cho C ngồi nhờ xe từ khu vực gần nhà mình đi đến ngã tư xã H để mua ma tuý và người đàn ông đã cho C ngồi nhờ xe từ ngã tư xã H đi đến khu vực xã T, huyện Y sau khi C mua ma tuý xong, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã xác minh nhưng chưa xác định được những người này là ai, khi nào xác định được và làm làm rõ được sẽ đề nghị xử lý sau.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là có một tiền án nên thuộc trường hợp tái phạm.
[4] Về tính chất vụ án và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây nguy hại cho sức khỏe, tính mạng con người và là hiểm họa cho toàn xã hội, bản thân bị cáo có nhân thân xấu. Vì thế, cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự mới có tác dụng phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, cũng cần xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có bố mẹ đẻ là Lê Xuân T1, Nguyễn Thị M được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, cải tạo bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra phải áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo, nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bản thân là người nghiện ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào các quy định của pháp luật cần tịch thu tiêu huỷ số ma túy là vật chứng còn lại (0,295gam Methamphetamine) vì không có giá trị sử dụng.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h Điều 52 BLHS
- Xử phạt: Lê Xuân C: 24 (hai mươi tư) tháng tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" .
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ, tạm giam: Ngày 04/6/2024.
[2]. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư được niêm phong theo quy định, bên trong có 10 viên ma tuý Methamphetamine có khối lượng 0,295 gam cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu.
(Vật chứng, điện thoại đang do Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý theo phiếu nhập kho số NK 102, ngày 05/9/2024).
[3]. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Xuân C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Nhung |
Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 87/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân Chung phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
