Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 87/2024/HSST

Ngày 14/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Phương;

Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Bằng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kpă Y Khoa;

Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy;

Bà Phạm Thị Thêm.

Thư ký phiên tòa: Ông Dương Công Bình – Thư ký Tòa án;

Đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk: Bà Trần Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 14/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Thị T (tên gọi khác: Không); giới tính: Nữ, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1984 tại tỉnh Thanh Hoá. Nơi thường trú: 116 Tổ A, Ấp T, xã B, huyện H, T. Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: 116 Tổ A, Ấp T, xã B, huyện H, T. Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Lê Bật C, sinh năm 1957 và bà Ngô Thị T1, sinh năm 1963; bị cáo có 04 em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo chung sống với Mai Hồng L như vợ chồng (không đăng ký kết hôn), hiện đang bị Công an huyện H, Tp. đang điều tra; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2023.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 27/01/2023 và ngày 01/8/2023, bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định khởi tố bị can về tội "Bắt, giữ người trái pháp luật" và "Cướp tài sản" xảy ra ngày 20/01/2023 tại xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Ngày 29/02/2024, bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Toàn T2; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 02 tháng 05 năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 3 Hậu Giang, phường B, Quận F, Tp .. Nơi ở hiện tại: Nhà trọ 32/9K, Tổ A, Ấp T, xã B, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị T3 (đều đã chết); Bị cáo có 02 anh, bị cáo là con út trong gia đình. Bị cáo chưa có gia đình. Tiền sự: Không.

Tiền án: 01 Tiền án. Năm 2018 Nguyễn Toàn T2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 249 BLHS. Ngày 25/01/2019 Toà án nhân dân Quận Bình Tân, Tp. xử phạt 07 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 249 BLHS theo Bản án số 08/2019/HS-ST đến ngày 19/01/2023 Nguyễn Toàn T2 chấp hành xong án phạt tù theo số 378/GCN của Trại giam T7 Cục C10.

Nhân thân: Ngày 29/02/2024, bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị T: Bà Đinh Thị V - Luật sư thuộc Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: B T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Toàn T2: Ông Nguyễn Toàn T4 - Luật sư thuộc Công ty L2 và Cộng sự, Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: I P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người chứng kiến:

  • Ông Trần Minh N, sinh năm 1975; Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
  • Bà Hứa Thị B, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị T, sinh năm 1984. Nơi thường trú: 116 Tổ A, Ấp T, xã B, huyện H, Tp . và Nguyễn Toàn T2, sinh năm 1994. Nơi thường trú: 3 Hậu Giang, phường B, Quận F, Tp., đã có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đều là người nghiện ma tuý, quen biết nhau từ đầu năm 2018. Do muốn có tiền nên T nảy sinh ý định rủ T2 cùng tham gia mua bán trái phép chất ma túy. Vào ngày 19/02/2024, T gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger cho một người đàn ông tên Đ quen biết ngoài xã hội (chưa rõ nhân thân lai lịch) ở huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đặt vấn đề bán 01(một) lạng ma túy đá cho Đ. Tới ngày 20/02/2024, người đàn ông tên Đ gọi điện thoại qua ứng dụng M lại cho T, đồng ý mua 01(một) lạng ma túy đá của T với giá tiền là 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng). Khi biết Đ đang cần mua chất ma túy đá, T gọi điện vào số thuê bao 0367784377 cho T2, kể lại việc giao dịch mua bán 01(một) lạng chất ma túy đá giữa T với người đàn ông tên Đ ở huyện K, tỉnh Đắk Lắk cho T2 nghe, nói T2 tìm mua 01(một) lạng ma túy đá, thỏa thuận số tiền lời bán ma túy đá có được sẽ chia đôi, T2 đồng ý. Chiều cùng ngày, qua ứng dụng T5, T2 tìm mua nợ được 01(một) lạng ma túy đá từ một người thanh niên tên T6 (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng), T2 gọi điện báo cho T biết thì T rủ T2 cùng đi lên huyện K, tỉnh Đắk Lắk bán ma túy đá, T2 đồng ý. Trước đó, để thuận lợi cho việc chia đôi số tiền lời bán ma túy, T gọi điện cho Đ nói Đại gởi 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) hỗ trợ T tiền đi xe, Đại đồng ý. Ngay sau đó, tài khoản của Lê Thị T số 7714071984 mở tại ngân hàng Q (M2) nhận được số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) từ số tài khoản 0961050605 tên D mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần P, sau đó T chuyển cho Nguyễn Toàn T2 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) mà không nói cho T2 biết nguồn gốc số tiền trên. Khoảng 18 giờ 30 ngày 20/02/2024, T2 cất giấu gói chất ma túy đá trong ba lô màu đen có chữ FPT.shop.com.vn của T2 rồi cùng Lê Thị T, con gái của T là cháu Lê Hồng Â, sinh năm 2023 đón xe khách tại ngã tư A, quận A, Tp. để lên huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 04 giờ 00 phút ngày 21/02/2024, T và T2 tới thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, cả hai thuê Phòng 101 nhà nghỉ S1, số HN, tổ dân phố D, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk để nghỉ ngơi. Khoảng 05 giờ 00 cùng ngày, T và T2 đang ở trong phòng 101 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, T2 nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên tự nguyện lấy từ trong ba lô cá nhân màu đen có chữ FPT.shop.com.vn ra giao nộp 01 (một) túi nylon màu xám, bên trong có 04 (bốn) gói nylon màu trắng dạng túi Zip, bên trong các túi Zip có chứa các cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra, thu giữ, niêm phong tang vật và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Thị T và Nguyễn Toàn T2, về hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy, theo đúng quy định của pháp luật.

Xét nghiệm chất ma túy đối với các bị cáo Lê Thị T và Nguyễn Toàn T2, kết quả dương tính (+) với Ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính hình thức: Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đối với Lê Thị T và Nguyễn Toàn T2.

Tại bản kết luận giám định số 315/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Các cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 04(bốn) gói nylon dạng túi Zip được niêm phong gửi giám định là Ma túy, có tổng khối lượng: 105,7817 gam loại: Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số 98/CT-VKSĐL-P1 ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Truy tố các bị cáo Lê Thị Thu, Nguyễn Toàn Thắng về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Toàn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cơ bản giống như nội dung Bản cáo trạng, Bản kết luận điều tra và như nội dung vụ án đã tóm tắt nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:

Sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hành vi bị cáo gây ra, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố tại Bản cáo trạng số 98/CT-VKSĐL-P1 ngày 08 tháng 7 năm 2024 của VKSND tỉnh Đắk Lắk, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Toàn T2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

  • Áp dụng điểm điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Toàn T2; Xử phạt bị cáo Lê Thị T 20 năm tù, bị cáo Nguyễn Toàn T2 20 năm tù.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý như nội dung Bản cáo trạng đã đề cập.
  • Người bào chữa cho các bị cáo không tranh luận về tội danh, cho rằng mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là quá nghiêm khắc, bởi lẽ sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo có điều kiện khó khăn, bị cáo T nuôi con nhỏ, bị cáo Nguyễn Toàn T2 có ông ngoại, bà ngoại là người có công với cách mạng. Do vậy, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo.

Kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo giữ nguyên các quan điểm, không tranh luận, không bổ sung gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Toàn T2 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với kết quả trưng cầu giám định, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập, đánh giá có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để khẳng định:

Do ý thức coi thường pháp luật và muốn có tiền tiêu xài cá nhân, vào ngày 19/02/2024, qua ứng dụng Messenger Lê Thị T liên lạc với một người đàn ông tên Đ (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ở huyện K và đồng ý mua ma túy của Đ với giá 54.000.000 đồng, sau đó T gọi cho Nguyễn Toàn T2 để trao đổi nhờ mua ma túy cho T, T2 đồng ý. Thông qua qua ứng dụng T5, T2 tìm mua nợ được 01(một) lạng ma túy đá của một người thanh niên tên T6 (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 16.000.000 đồng, T2 gọi điện báo cho T biết, thì T rủ T2 cùng đi lên huyện K, tỉnh Đắk Lắk bán ma túy. Đến khoảng 04 giờ 00 phút ngày 21/02/2024, T và T2 tới thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, thuê Phòng 101 nhà nghỉ S1, số HN, tổ dân phố D, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk để nghỉ ngơi, thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt phát hiện và kiểm tra, thu giữ 01 (một) túi nylon màu xám, bên trong có 04 (bốn) gói nylon màu trắng dạng túi Zip, bên trong các túi Zip có chứa các cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong tang vật và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định. Kết luận giám định có khối lượng: 105,7817gam, là ma túy loại: Methamphetamine.

Do đó, có căn cứ xác định các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Toàn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, với tình tiết định khung là mua bán Methamphetamine có khối lượng có khối lượng 100 gam trở lên, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 251. Tội Mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

b) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

[2] Xét tính chất vụ án do các bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng. Các bị cáo nhận thức được chất ma túy là loại dược liệu đặc biệt do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi tổ chức và cá nhân tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép nhưng các bị cáo vẫn sử dụng trái phép chất ma túy; đồng thời các bị cáo vẫn cố tình thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy nhằm thu lợi bất chính. Bị cáo Lê Thị T là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Nguyễn Toàn T2 và là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên cần xem xét vai trò, vị trí của bị cáo khi lượng hình; đối với bị cáo Nguyễn Toàn T2 đã bị xử phạt về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục có hành vi mua bán trái phép M1 có khối lượng lớn cùng với bị cáo Lê Thị T.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo T2 trình bày về 02 giấy tờ, cho rằng ông, bà ngoại của bị cáo T2 có công với cách mạng. Tuy nhiên, HĐXX nhận thấy không đủ cơ sở pháp lý để xem xét các giấy tờ này. Mặt khác, các bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng mà các Luật sư đề nghị.

Do vậy, phải áp dụng hình phạt ngang bằng nhau đối với cả 02 bị cáo, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của từng bị cáo thì mới có tác dụng cải tạo giáo dục các bị cáo và trấn áp, răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

[4] Về các vấn đề khác: Kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh nhân thân, lai lịch, điều tra, làm rõ hành vi có dấu hiệu mua bán trái phép chất ma túy của đối tượng đối tượng tên T6 tại Tp. và đối tượng tên Đ ở huyện K, tỉnh Đắk Lắk để xử lý theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Toàn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Áp dụng thêm điểm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Toàn T2;

  • Xử phạt bị cáo Lê Thị T 20 (hai mươi) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 21/02/2024.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Toàn T2 20 (hai mươi) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 21/02/2024.

[2] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

  • Tịch thu tiêu hủy 105,3809 gam ma túy, loại Methamphetamine cùng toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gởi giám định ban đầu; 03 (ba) sim điện thoại gồm: 0945.038.xxx, 0978524737 (số điện thoại Lê Thị T sử dụng) và số 0367784377 (số điện thoại Nguyễn Toàn T2 sử dụng) là phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội; 01(một) ba lô màu đen có chữ FPT.shop.com.vn của Nguyễn Toàn T2, sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01(một) điện thoại di động Iphone có số IMEI 359172073167474 và 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu đỏ (mặt kính đã bị vỡ) có số IMEI 869938032655392 (điện thoại của Lê Thị T); 01(một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG (mặt sau đã bị vỡ) có số IMEI 350346450124782 (điện thoại của Nguyễn Toàn T2) là phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

(Đặc điểm vật chứng được mô tả chi tiết trong biên bản về việc giao nhận, vật chứng ngày 10/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk).

[3] Kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk tiếp tục xác minh nhân thân, lai lịch, điều tra làm rõ hành vi có dấu hiệu phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" của đối tượng đối tượng tên T6 tại Tp. và đối tượng tên Đ ở huyện K, tỉnh Đắk Lắk để xử lý theo quy định của pháp luật.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Toàn T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao;
  • - VKSND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở tư pháp;
  • - Cục T.H.A.DS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Trại tạm giam CA. tỉnh Đắk Lắk ;
  • - VP Cơ quan CSĐT CA. tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng HSNV CA. tỉnh Đắk Lắk ;
  • - Cơ quan T.H.A.H.S. CA. tỉnh Đắk Lắk;
  • - Bị cáo; người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Duy Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HSST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 87/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Xử phạt bị cáo Lê Thị Thu 20 (hai mươi) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 21/02/2024. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Toàn Thắng 20 (hai mươi) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 21/02/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger