|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2024/HSST Ngày: 09/9/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành Đô; Ông Trần Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đàm- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 và 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2024/HSST ngày 13 tháng 8 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:155/2024/QĐXXST – HS ngày 26 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Đức T, sinh năm 1994, tại tỉnh Thanh Hóa
Căn cước công dân số: [...]; cấp ngày 27/12/2021.
Nơi cư trú: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước
Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức Đ và bà Lê Thị P; vợ Nguyễn Thị H; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 06/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt).
* Những người tham gia tố tụng:
- Người đại diện cho gia đình người bị hại Võ Minh K: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981. (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Nhật T1, sinh năm 2008. (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Nhật T1: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1985. (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn dân sự: Công ty cổ phần X.
Địa chỉ: Số F đường P, KP. T, P. T, TP ., tỉnh Bình Phước; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1980 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đức T có giấy phép lái xe ôtô hạng B2 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 16/5/2022. T làm tài xế lái xe thuê cho Công ty cổ phần X. Chiều tối ngày 28/01/2024, T không sử dụng rượu, bia, ma túy hay chất kích thích khác, trực tiếp điều khiển xe ôtô biển số 93H-023.04 đi trên đường Q hướng từ TP.Đồng Xoài đi tỉnh Đăk Nông. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T đi đến Km: 928+900 đường Q thuộc thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, T cho xe chuyển hướng qua phần đường bên trái để vào quán nước bên trái đường theo hướng di chuyển của T, thì xảy ra va chạm với xe môtô biển số: 93F-412.77 do Võ Minh K điều khiển chở Nguyễn Nhật T1 đi theo hướng ngược lại gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả: Võ Minh K chết tại chỗ, Nguyễn Nhật T1 bị thương, xe môtô biển số: 93F-412.77 bị hư hỏng.
- Tại Kết luận giám định tử thi số: 179 ngày 02/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, xác định: Võ Minh K bị chấn thương ngực, bụng kín gây giập, rách phổi, vỡ gan dẫn đến tử vong.
- Tại Kết luận giám định số: 186 ngày 07/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, xác định: mẫu máu ghi tên Võ Minh K đựng trong 02 ống nhựa được niêm phong gửi giám định tìm thấy thành phần cồn Ethanol là 146,995 mg/100ml.
- Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 222 ngày 11/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B, xác định: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Nhật T1 tại thời điểm giám định là: 41%.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 37 ngày 19/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B, xác định: chi phí sửa chữa, khôi phục lại 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA, loại: WINNER, biển kiểm soát 93F1-412.77, xe bị hư hỏng sau tai nạn giao thông là: 17.390.000đ.
Tại Cáo trạng số 84/CT – VKS ngày 09/8/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Lê Đức T về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, nên giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt đề nghị: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Đức T từ 12 đến 18 tháng tù; Hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng
Bị cáo Lê Đức T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh; Về hình phạt có ý kiến tranh luận cho rằng mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là nặng vì bị cáo phạm tội lần đầu, do lỗi vô ý; bị hại cũng có lỗi do đã sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông, chạy nhanh không làm chủ được tốc độ nên tông vào xe do bị cáo điều khiển khi đã qua làm đường; bị cáo có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn do cha đang đi chấp hành án, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi mẹ già và em đang học đại học; sau tai nạn bị cáo đã cố gắng vay mượn và nhờ anh em bạn bè hỗ trợ để bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo để ở ngoài lao động nuôi mẹ già, em đi học và tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho gia đình người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B và Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 20 giờ ngày 28/01/2024, Lê Đức T điều khiển xe ôtô biển số 93H-023.04 hướng từ thành phố Đ đi tỉnh Đăk Nông chuyển hướng qua đường tại Km 922+900 đường Q đoạn thôn E, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, không đảm bảo an toàn nên đã va chạm với xe môtô biển số: 93F-412.77 do Võ Minh K điều khiển chở Nguyễn Nhật T1 đi theo hướng ngược lại, gây ra tai nạn giao thông, hậu quả là làm anh K tử vong tại chỗ, anh T1 bị thương tích 41%.
Hành vi của bị cáo Lê Đức T đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.
Điều 15. Luật Giao thông đường bộ, quy định:
“2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”.
Hành vi của bị cáo Lê Đức T dẫn đến hậu quả làm chết một người nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc gây thiệt hại cho người khác một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) Làm chết người;
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Ngoài ra, khi xảy ra vụ tai nạn còn có anh Nguyễn Nhật T1 ngồi sau xe mô tô do Võ Minh K điều khiển bị thương tích tổn thương sức khỏe 41%.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng do ý thức chấp hành giao thông kém, chủ quan, cẩu thả dẫn đến hành vi phạm tội, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tổng số tiền 160.000.000đ, số tiền còn lại hai bên cũng đã thương lượng, thỏa thuận được với nhau tại phiên tòa là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị hại cũng có lỗi một phần do đã uống rượu bia trước khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn, qúa trình giải quyết vụ án đại diện gia đình người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu, phạm tội do lỗi vô ý; có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng được chính quyền địa phương xác nhận; việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bị cáo có khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù giam mà cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp với tinh thần hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
[5] Về vật chứng vụ án: Qúa trình điều tra vụ án Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã xử lý trả lại xe ôtô biển số 93H-023.04 cho Công ty cổ phần X; Trả lại xe môtô biển số: 93F-412.77 cho bà Nguyễn Thị N là mẹ của người bị hại Võ Minh K.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ tai nạn phía bị cáo đã bồi thường cho đại diện gia đình người bị hại Võ Minh K số tiền 120.000.000₫ và bồi thường cho anh Nguyễn Nhật T1 số tiền 40.000.000đ. Tại phiên tòa bị cáo với người đại diện gia đình người bị hại Võ Minh K và đại diện của anh Nguyễn Nhật T1 thỏa thuận: bị cáo có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 30.000.000 đồng, mỗi tháng bồi thường 5.000.000đ, bắt đầu từ tháng 9/2024 cho đến khi bồi thường xong; Tiếp tục bồi thường cho Nguyễn Nhật T1 số tiền 35.000.000đ, mỗi tháng bồi thường 5.000.000đ, bắt đầu từ tháng 9/2024 cho đến khi bồi thường xong. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần ghi nhận.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[8] Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và bồi thường thiệt hại là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận; đề nghị hình phạt tù không cho bị cáo hưởng án treo là có phần nghiêm khắc, vì bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại Khoản 1 và Khoản 2 của Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Đức T 01 (một) năm, 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Đức T về cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 590, 591 Bộ luật Dân sự;
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Lê Đức T với đại diện gia đình người bị hại Võ Minh K và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Nhật T1; Bị cáo Lê Đức T có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 30.000.000 đồng, mỗi tháng bồi thường 5.000.000đ, bắt đầu thực hiện nghĩa vụ bồi thường từ tháng 9/2024 cho đến khi bồi thường xong; Tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Nhật T1 số tiền 35.000.000đ, mỗi tháng bồi thường 5.000.000đ, bắt đầu thực hiện nghĩa vụ bồi thường từ tháng 9/2024 cho đến khi bồi thường xong.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.250.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện gia đình người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; bị đơn dân sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Huệ |
Bản án số 87/2024/HSST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 87/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đức Tuấn phạm tôi Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ
