Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày: 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Việt Hoàng;

  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Xuyên;

  • 2. Bà Phạm Thị Thu.

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Khuyên - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy V

, sinh năm 1986; nơi thường trú: Khu phố V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1961 và bà Ngô Thị V1, sinh năm 1964; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2023; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992; trú tại: Khu phố V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1961; trú tại: Khu phố V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
  3. Anh Ngô Quý N, sinh năm 1991; trú tại: Khu phố V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
  4. Anh Nguyễn Thanh P, sinh năm 1987; trú tại: Khu phố Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

* Người chứng kiến:

  1. Anh Chu Minh Đ, sinh năm 1985; trú tại: Khu phố Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  2. Anh Trần Hữu C, sinh năm 1985; nơi thường trú: thôn Xã, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương; chỗ ở: khu phố Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963; trú tại: Khu phố V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 13h30' ngày 13/10/2023, tại khu vực đường L thuộc khu phố V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường Đ, thành phố T, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Duy V có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy trong người, thu giữ: Tại túi quần sau bên trái của V đang mặc có 01 túi nilon màu đen, mép túi nilon màu đen thắt bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng chứa các viên nén màu nâu. Tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Nguyễn Duy V không ký vào biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ của V 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, lắp sim số 0584.108.494 và 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 99B1-195.17.

Tiến hành kiểm tra nước tiểu xác định V dương tính với chất ma tuý Methamphetamine.

Ngày 13/10/2023, tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Duy V tại khu phố V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, lực lượng Công an thu giữ: Tại ngăn kéo tủ tivi trong phòng ngủ của V 01 cân tiểu ly điện tử.

Tại bản kết luận giám định số: 2104/KL-KTHS ngày 16/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

  • “- Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 hộp giấy gửi giám định có khối lượng là 69,3809 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý Ketamine.
  • - Các viên nén màu nâu bên trong 01 hộp giấy gửi giám định có khối lượng là 39,5234 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý MDMA.”

Tại bản kết luận giám định số: 2157/KL-KTHS ngày 25/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

  • “- Phát hiện 05 dấu vết đường vân dạng trượt, hằn trên 01 túi nilon màu đen gửi giám định. Các dấu vết đường vân này không đủ yếu tố giám định.
  • - Không phát hiện dấu vết đường vân trên 02 túi nilon màu trắng gửi giám định.”

Tại Bản kết luận giám định số: 9276/KL-KTHS ngày 29/12/2023, kết luận giám định đối với 01 điện thoại Samsung màu đen gắn 01 thẻ sim thu của V:

“Không phục hồi, trích xuất được dữ liệu lưu trữ trong máy điện thoại màu đen giám định do máy bị khóa màn hình”

Tiến hành rà soát tại khu vực xảy ra vụ việc không phát hiện camera giám sát.

Quá trình điều tra Nguyễn Duy V khai nhận: Trưa ngày 13/10/2023, T2 là bạn xã hội (V không rõ thông tin, địa chỉ của T2) gọi điện thoại cho V bảo đón T2 vào nhà V. V đồng ý và đi đón T2 về nhà mình ở khu phố V phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh chơi. Khi vào nhà, V và T2 lên phòng ngủ của V ở tầng 2 nói chuyện khoảng 15 phút thì T2 rủ V đi uống nước. V đồng ý và điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 99B1-195.17 chở T2 đi. Khi đi đến khu vực đoạn đường ngã 3 thuộc khu phố V, phường Đ, thành phố T thì T2 bảo V ra gặp bạn của T2 đang chờ ở xe Taxi để bảo bạn của T2 đi về trước. T2 xuống xe đợi còn V điều khiển xe môtô đi ra chiếc xe Taxi của bạn T2 đang chờ. Đến nơi người nam thanh niên bạn của T2 bảo V vào trong xe Taxi. Khi V vào xe Taxi thì bị người thanh niên ôm giữ khống chế. Ngay lúc đó lực lượng Công an đến bắt giữ và kiểm tra người V. Phát hiện thu giữ tại túi quần phía sau bên trái V đang mặc 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng chứa viên nén màu nâu. Số ma túy mà lực lượng Công an thu giữ V do bạn của T2 nhét vào túi quần V. V không biết bạn của T2, không nhờ hàng taxi và biển số xe taxi. Ngoài ra, V còn khai nhận bản thân bị bệnh tâm thần và đã được gia đình đưa đi điều trị nhiều lần.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số: 79/KLGĐ ngày 17/4/2024 của V2, kết luận:

  • “... Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Nguyễn Duy V có Hội chứng nghiện các chất gây ảo giác, theo Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã F16.2
  • - Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”

Tại bản Cáo trạng số: 69/CT-VKSBN-P1 ngày 04/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như Cáo trạng của Viện kiểm sát (VKS) truy tố là đúng, không oan. Số ma túy mà công an thu giữ trên người của bị cáo là được bạn của T2 cho. Mục đích để sử dụng cho bản thân. Khi nhận ma túy bị cáo không biết khối lượng cụ thể là bao nhiêu. Về việc bạn của T2 cho bị cáo ma túy thì T2 không biết. Sở dĩ tại giai đoạn điều tra bị cáo không thừa nhận là, vì bị cáo muốn chối tội. Nay bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình, bị cáo khẳng định sử dụng đúng như lời khai tại phiên tòa hôm nay. Bị cáo mong Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm về với gia đình và xã hội. Về chiếc điện thoại kèm theo sim, bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội nên đề nghị HĐXX xem xét trả lại cho bị cáo. Đối với chiếc cân tiểu ly thu giữ tại nhà bị cáo, bị cáo khai không phải của bị cáo, nhưng bị cáo không đề nghị nhận lại do không còn giá trị sử dụng.

Ông Nguyễn Minh T (bố của bị cáo) khai khi công an xem xét nhà có thu giữ một cân tiểu ly trong phòng ngủ của bị cáo. Do không còn giá trị sử dụng nên ông không xin lại. Đối với bị cáo do sử dụng ma túy nhiều nên thường gây ảo giác, nhiều lần dùng dao dọa đâm chém, biểu hiện thần kinh không bình thường. Ông đã nhiều lần nhờ chính quyền địa phương và công an hỗ trợ. Hiện hoàn cảnh gia đình ông rất éo le, khó khăn. Vợ ông cũng đã điều trị tâm thần, cả hai đứa con trai của ông đều vướng vòng lao lý về tội ma túy. Ông mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho V.

Anh Ngô Quý N có lời khai như giai đoạn điều tra. Anh N khai chiếc xe môtô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 99B1-195.17 anh cho V mượn là của anh Nguyễn Văn Đ gửi ở chỗ anh. Hiện nay, CQĐT đã trả lại cho anh Đ chiếc xe môtô trên, nên anh không yêu cầu gì.

Anh Nguyễn Thanh P khai anh không biết gì về số điện thoại 0584.108.xxx mà bị cáo sử dụng. Anh chưa từng đăng ký và sử dụng số thuê bao này. Anh không có yêu cầu gì.

Ông Nguyễn Văn T1 khai sự việc ông chứng kiến sự việc công an bắt quả tang V đúng như những gì khai tại cơ quan điều tra. Ông giữ nguyên lời khai và không có ý kiến gì.

Đại diện VKS nhân dân tỉnh B thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội: Mặc dù tại giai đoạn điều tra và truy tố, bị cáo không thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Duy V từ 11 năm 06 tháng tù đến 12 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo V.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và 01 cân tiểu ly (bị cáo và ông T không xin lại do không còn giá trị sử dụng). Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại và thẻ sim kèm theo bị thu giữ do không có căn cứ xác định bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội.

Bị cáo trình bày, tại CQĐT bị cáo không nhận tội nhưng đến nay, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình; bị cáo rất ăn năn hối hận nên mong HĐXX giảm nhẹ nhất hình phạt cho bị cáo. Hoàn cảnh bị cáo rất khó khăn.

Ông Nguyễn Minh T trình bày tranh luận: Bản thân ông là người nuôi V, vợ ông lo nghĩ nhiều nên cũng bị tâm thần không điều trị. Ông tuổi cũng đã cao; có 02 con trai thì đều bị đi tù về ma túy. Hoàn cảnh rất éo le. Riêng V 03 năm nay không ra khỏi nhà, trước khi bị bắt phải vào bệnh viện cấp cứu vì viêm tụy cấp, bị tiểu đường ngày phải tiêm 02 mũi; vừa ra viện được 01 tháng thì bị bắt. V thường bị loạn thần. Xin HĐXX xem xét cho hoàn cảnh của ông và nhân thân V để giảm nhẹ hình phạt cho V.

VKS phát biểu ý kiến thay đổi mức hình phạt đề nghị. Do đến nay, bị cáo đã thành khẩn khai cáo, ăn năn hối cải; xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đã bị bệnh tiểu đường; thần kinh không ổn định; hoàn cảnh gia đình éo le, khó khăn, nên đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo từ 10 năm 06 tháng tù đến 11 năm 06 tháng tù.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo V rất ân hận về hành vi của mình. Bị cáo mong HĐXX cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.
  2. Về tội danh: Trong quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Duy V không thừa nhận số ma túy bị thu giữ trên người của bị cáo là của bị cáo mà là của T2 nhét vào túi quần bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thay đổi lời khai, thừa nhận hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy như Cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Căn cứ vào lời khai của bị cáo; lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 13/10/2023, tại khu vực đoạn đường liên khu thuộc khu phố V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh phát hiện bắt quả tang Nguyễn Duy V có hành vi tàng trữ 69,3809 gam ma túy Ketamine và 39,5234 gam ma túy MDMA mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ ma túy. Do đó, Cáo trạng của VKS nhân dân tỉnh B truy tố Nguyễn Duy V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy còn là nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường và giống nòi của con người nên cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  4. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Duy V chưa từng bị xét xử, xử phạt hành chính, tuy nhiên V là đối tượng nghiện ma túy nhiều năm, thường xuyên bị ảo giác, thần kinh không ổn định. Bị cáo thường có hành vi hung hãn như dùng dao đâm vật nuôi; dọa giết người nên gây bất an trong gia đình và địa phương. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không thừa nhận số ma túy thu giữ là của bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo thay đổi lời khai, thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình và cầu xin sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS như đề nghị của VKS là có căn cứ. Việc bị cáo thay đổi lời khai, thừa nhận hành vi phạm tội thể hiện bị cáo đã có chuyển biến về nhận thức; ý thức được hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét áp dụng chính sách khoan hồng của pháp luật cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. Xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, số lượng ma túy tàng trữ lớn, do đó, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian đủ dài để giúp bị cáo cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
  6. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo V không có công việc ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho V.
  7. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định. Đối với cân tiểu ly thu giữ trong nhà bị cáo không liên quan đến ma túy, bị cáo và ông T đều không xin lại vì không có giá trị sử dụng, do đó tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại kèm sim thu giữ của bị cáo, do không có căn cứ xác định bị cáo V sử dụng vào mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần trả lại cho bị cáo như đề nghị của VKS là có căn cứ.
  8. Liên quan trong vụ án:
  9. Đối với đối tượng tên T2 là người bảo V ra gặp bạn của T2. Tại giai đoạn truy tố, V khai T2 còn được gọi là Thắng T3, sinh năm 1991, nhà ở phường V, thành phố B. Tòa án đã yêu cầu VKS xác minh theo lời khai của bị cáo. CQĐT đã xác minh tại địa phương không có ai như thông tin V cung cấp. Đối với đối tượng bạn của T2, V khai là người cho bị cáo ma túy. Tuy nhiên, V không biết nhân thân lai lịch của người này. CQĐT tiếp tục xác minh 02 đối tượng trên, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
  10. Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 99B1-195.17 chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn Đ. Anh Đ gửi chiếc xe này ở chỗ anh Ngô Quý N, sau đó anh N cho bị cáo mượn xe mục đích để đi lại. Anh Đ và anh N đều không biết V dùng để đi tàng trữ trái phép chất ma túy nên CQĐT đã trả lại xe mô tô nêu trên cho anh Nguyễn Văn Đ là đúng quy định pháp luật.
  11. Đối với anh Nguyễn Thanh P đứng tên chủ thuê bao 0584.108.494 do bị cáo V sử dụng. Anh P trình bày không đăng ký cũng như không sử dụng số thuê bao nêu trên nên CQĐT không xem xét, xử lý đối với anh P là phù hợp.
  12. Án phí: Bị cáo Nguyễn Duy V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 329; Điều 136; Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí tòa án:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy V 10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2023.

  2. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Duy V 45 ngày kể từ tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
  3. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) hộp niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 cân tiểu ly. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung kèm 01 sim của Nguyễn Duy V.

    (Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 97/2024 ngày 22/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

  4. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Duy V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh (PC04);
  • - Cơ quan THADS Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS: Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Việt Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYEN DUY V PHAM TOI TANG TRU TRAI PHEP CHAT MA TUY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger