Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày       : 31/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Trần Ái Vy

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Xuân Thảo

2/ Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương – Thư ký tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên

Vào các ngày 28 và 31 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Thị Tuyết M; giới tính: Nữ; sinh năm: 1997; tại Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú: Số B, tổ G, ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: P, nhà số H Q, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nhân viên văn phòng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Anh M1, sinh năm 1972 và bà: Phạm Thị Kim T, sinh năm 1972; Hoàn cảnh gia đình: chưa chồng con; Tiền án: không; tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày: 25/12/2023. (Có mặt).

- Bị hại:

  1. Công ty TNHH T3
  2. Địa chỉ: A Đồng Nai, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp của Công ty: Ông Đào Văn H (Vắng mặt)

  1. Ông Đào Văn H, sinh năm 1988
  2. Địa chỉ: 20.02 Chung cư H, C, Đường C, phường A, Thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)

  3. Nguyễn Thùy L, sinh năm 1988;
  4. Địa chỉ: B L, Phường F, quận T, TP .. ( Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Văn L1, sinh năm: 1990,
  2. Địa chỉ: 1 H, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

  3. Ông Dương Minh T1, sinh năm: 1992;
  4. Đại chỉ: A B, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/11/2023, Phạm Thị Tuyết M được vào làm nhân viên thử việc với nhiệm vụ là thư ký cho giám đốc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn T3, địa chỉ tại số A Đồng Nai, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Đào Văn H làm giám đốc.

Ngày 06/12/2023, do cần tiền tiêu xài nên M nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của công ty để mang đi bán và đã 03 lần thực hiện hành vi như sau:

Lần 1: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 07/12/2023, khi ông H đang đi công tác tại Hà Nội, M vào phòng của ông H lấy trộm 01 chiếc máy ảnh hiệu Canon rồi đem bán cho cửa hàng M2 do ông Trần Văn L1 làm chủ tại địa chỉ 1 H, Phường I, quận P với giá 2.700.000 đồng, M tiêu xài cá nhân hết.

Lần 2: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/12/2023, M lén lút vào phòng của chị nguyễn Thùy L lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy Z Fold2 màu hồng về cho mẹ ruột là bà Phạm Thị Kim T sử dụng.

Lần 3: Ngày 15/12/2023, M lén lút vào lấy trộm 01 Laptop hiệu Asus của Công ty rồi bán cho ông Dương Minh T1 là chủ cửa hàng tại địa chỉ A B, Phường G, quận T với giá 500.000 đồng. M cho em gái là Phạm Thị Tuyết A 500.000 đồng.

Trưa cùng ngày, ông H chuyển khoản cho M số tiền 4.570.000 đồng yêu cầu M thanh toán tiền công nợ cho Công ty TNHH N có trụ sở tại địa chỉ số B Đ, Phường I, quận P. M chiếm đoạt số tiền trên tiêu xài cá nhân.

Ngày 22/12/2023, khi đang ở Kiên Giang, cần tiền tiêu xài, M nhắn tin Zalo cho bà Hà Tuyết T2 là nhân viên hành chính nhân sự đưa thông tin gian dối “cần giao cho ông P (nhân viên của Công ty) 01 CPU và 01 màn hình hiệu Dell 27 inch, nhờ T2 đóng thùng để M gửi cho ông P làm việc”. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, M đặt xe ôm đến Công ty lấy thùng hàng giao đến cửa hàng của ông Dương Minh T1, bán được 3.000.000 đồng. M rút ra 500.000 đồng nhờ em gái là Phạm Thị Tuyết A cất giữ.

Ngày 15/12/2023, ông H phát hiện không có máy ảnh, nghĩ nhân viên lấy máy sử dụng chụp hình sản phẩm nên ông H không kiểm tra. Đến ngày 23/12/2023, ông H phát hiện mất 01 Laptop hiệu Asus màu bạc, 01 CPU máy tính để bàn và 01 màn hình hiệu Dell 27 inch, 01 Laptop hiệu Asus vivo màu vàng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Z Fold2 màu hồng và 01 bóp cầm tay hiệu Luis Vuiton. Ông H nhắn tin hỏi nhưng M không thừa nhận lấy trộm, M trả lời mượn bộ máy tính về nhà trọ để làm việc và sẽ mang đến công ty để trả lại.

Ngày 23/12/2023, lo sợ bị phát hiện, M đặt mua trên mạng 01 CPU khác với giá 2.300.000 đồng mang đến Công ty trả lại. Phát hiện không phải thiết bị của công ty. M thừa nhận đã chiếm đoạt 01 CPU, 01 01 màn hình hiệu Dell 27 inch 01 Laptop hiệu Asus màu bạc; 01 bộ máy ảnh hiệu Canon D60; 01 điện thoại di động hiệu S Fold2 màu hồng nhưng không thừa nhận lấy trộm 01 chiếc bóp cầm tay hiệu Luis Vuiton và 01 Laptop hiệu Asus vivo màu vàng nên ông H và bà L trình báo Công an P1, quận T.

Quá trình điều tra, Phạm Thị Tuyết M thừa nhận hành vi lén lút trộm của công ty A1 chiếc máy ảnh hiệu Canon và 01 Laptop hiệu Asus màu bạc; lấy trộm của chị L 01 chiếc điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy Z Fold2 màu hồng. Ngoài ra, M đã chiếm đoạt số tiền 4.570.000 đồng do ông H chuyển vào tài khoản yêu cầu M thanh toán tiền công nợ cho Công ty TNHH N vào ngày 15/12/2023. Và ngày 22/12/2023 M dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 CPU và 01 màn hình hiệu Dell 27 inch của Công ty. Khi mang bán tài sản cho các chủ cửa hàng và cho mẹ ruột số tiền 1.200.000 đồng, cho em gái số tiền 1.000.000 đồng, M không cho biết là tài sản, tiền do M phạm tội mà có.

Theo Kết quả định giá tài sản số 39/KL-HĐĐGTS ngày 06/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T vào thời điểm định giá tháng 12/2023 như sau:

  • 01 chiếc Laptop hiệu Asus vicvo màu vàng; 01 Laptop hiệu Asus màu bạc không rõ mã hàng (model), cấu hình và 01 cái bóp cầm tay hiệu Luis Vuiton, khảo sát thị trường không có nhãn hàng trên nên không có cơ sở định giá.
  • 01 chiếc máy ảnh hiệu Canon 60D màu đen trị giá 5.800.000 đồng; 01 thùng CPU máy tính để bàn và 01 màn hình hiệu Dell 27 inch trị giá 7.500.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Z Fold2 màu hồng trị giá 6.800.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại là Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiết kế và thi công nội thất Link Decor do ông Đào Văn H đại diện theo pháp luật và bà Nguyễn Thùy L đã nhận bồi thường tổng cộng 175.000.000 đồng theo thỏa thuận, ông H và bà L không yêu cầu bồi thường khác và có đơn bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đối với ông Trần Văn L1 và ông Dương Minh T1 mua tài sản do bị cáo chiếm đoạt mà có; bà Phạm Thị Kim T được bị cáo cho số tiền 1.200.000 đồng và bà Phạm Thị Tuyết A được cho số tiền 1.000.000 đồng, cả 04 người không biết tài sản do M phạm tội mà có nên không đủ cơ sở khởi tố về hành vi “Tiêu thụ, chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ông L1 và ông T1 không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền đã nhận, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKS-TB ngày 19 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Phạm Thị Tuyết M về tội “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174 và khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 03 tội đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 tháng tù đến 02 năm 03 tháng tù.
  • Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
  • Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phạm Thị Tuyết M, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng, bị hại cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thị Tuyết M đã có lén lút chiếm đoạt 01 máy ảnh Canon trị giá 5.800.000 đồng; 01 Laptop hiệu Asus (không có cơ sở định giá) và điện thoại di động hiệu S Z Fold2 trị giá 6.800.000 đồng của các bị hại trong vụ án. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã trộm cắp là 12.600.000 đổng đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo còn có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt số tiền 4.570.000 đồng của bị hại Đào Văn H đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngoài ra, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 CPU và 01 màn hình hiệu Dell 27 inch trị giá 7.500.000 đồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn T3 đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174 và khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trong vụ án là 20.100.000 đồng. Hành vi bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, lười lao động nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Do bị cáo phạm nhiều tội nên cần áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo.

[2] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thuộc tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục hậu quả và được bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện khắc phục số tiền 175.000.000 đồng cho bị hại. Bị hại ông Đào Văn H, Công ty trách nhiệm hữu hạn T3 do ông Đào Văn H làm đại diện và bà Nguyễn Thùy L đã nhận số tiền 175.000.000 đồng theo thỏa thuận. Ông H và bà L không yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Về tang vật của vụ án:

  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu S Fold2 màu hồng đã trả lại cho bà Nguyễn Thùy L.
  • Đối với 01 thùng CPU máy tính và 01máy ảnh hiệu Canon D60 màu đen đã trả lại cho công ty T3.
  • Đối với số tiền 1.200.000 đồng do bà Phạm Thị Kim T giao nộp và 1.000.000 đồng do Phạm Thị Tuyết A giao nộp. Xét đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có, tuy nhiên do bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại và bị hại không có yêu gì thêm nên trả lại số tiền này cho bị cáo.
  • Đối với 01 thùng CPU máy tính do bị cáo tự mua để trả lại cho Công ty T3 tuy nhiên công ty đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, xét tài sản này không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của bị cáo, xét đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
  • Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 đĩa CD ghi hình lấy lời khai bị cáo M.
  • [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; khoản 1 Điều 175; Điều 38; Điều 55; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Tuyết M phạm tội “Trộm cắp tài sản”; “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo: Phạm Thị Tuyết M

    01(một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 01(một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 01(một) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

    Tổng hợp hình phạt của 03 tội, buộc bị cáo chấp hình phạt chung là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023.

  3. Về xử lý vật chứng:
    • Trả lại cho bị cáo: số tiền 2.200.000 (hai triệu hai trăm ngàn) đồng; 01 thùng CPU máy tính (đã niêm phong).
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S21 màu tím (đã niêm phong).
    • (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 76/PNK ngày 08/4/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T).

  4. Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại; người liên quan;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Trần Ái Vy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger