Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày: 12/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Nửa.

Ông Trương Thế Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thị Cẩm N (bị cáo khai tên gọi khác: Nguyễn Thị T, Lê Cẩm N, Hồng C); Sinh năm: 1963; Tại: Tỉnh Bến Tre; Hộ khẩu thường trú: Ấp S, xã B, huyện G, tỉnh Tr (nay là ấp S, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tr); Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ và bà: Lê Thị B (chết); Có chồng: Là ông Văn Công Đ và con: Có 02 người con, lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1984; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/11/2023.

Nhân thân:

  • Ngày 02/4/1979, bị Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi trộm cắp tài sản của công dân; ngày 20/3/1983, bị Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi trộm cắp tài sản của công dân và bị đưa đi cưỡng bức lao động tại Sông Bé; ngày 27/7/1985, bị Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi trộm cắp tài sản của công dân; ngày 20/6/1986, bị Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi trộm cắp tài sản của công dân và bị xử lý bằng hình thức cải tạo tại chỗ.
  • Ngày 07/12/1988, bị Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án về tội «Trộm cắp tài sản của công dân» (Bản án số: 324/HSST).
  • Ngày 14/7/1989, bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 24 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản của công dân». Tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt của bản án trước. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 36 tháng tù (Bản án số: 139/HSST). Đã thi hành xong án phí tháng 01/1990 (Công văn trả lời xác minh số: 3041/CCTHADS ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Ngày 18/7/1991, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản của công dân» và 01 năm tù về tội «Trốn khỏi nơi giam». Tổng hợp hình phạt của hai tội trên với hình phạt của Bản án số: 139/HSST ngày 14/7/1984 của Tòa án nhân dân Quận 1. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 năm tù (Bản án số: 416/HSST).
  • Ngày 08/6/2000, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản của công dân» (Bản án số: 1595/HSST).
  • Ngày 29/12/2004, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 147/2004/HSST). Đã thi hành xong án phí ngày 01/9/2009 (Phiếu trả lời xác minh số: 656/PXM-CCTHADS ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Ngày 09/7/2007, bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 99/2007/HSST). Đã thi hành xong án phí ngày 22/7/2010 (Công văn trả lời xác minh số: 1744/CCTHADS ngày 26/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Ngày 27/6/2008, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản». Tổng hợp với hình phạt 05 năm tù của Bản án số: 99/2007/HSST ngày 09/7/2007 của Tòa án nhân dân Quận 3. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 năm tù (Bản án số: 87/2008/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/6/2015 và đã thi hành xong án phí ngày 16/9/2013 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 910/GCN của Trại giam Xuân Lộc và Giấy xác nhận kết quả thi hành án số: 824/GXN-CCTHADS ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).
  • Ngày 22/8/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 158/2016/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/3/2018 và đã thi hành xong án phí ngày 25/7/2018 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 594/GCN của Trại giam Thủ Đức và Phiếu trả lời xác minh số: 658/PXM-CCTHADS ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

Bà Nguyễn Thị Minh P; Sinh năm: 2003; Thường trú: 118/BBA, ấp Bến Bàu, xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở: 185/54 đường B, Phường N, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 01/11/2023, khi đi bộ trong hẻm 185 đường B, Phường N, Quận F, Lê Thị Cẩm N phát hiện cửa phòng cuối của dãy nhà trọ số 185/54 đường B, Phường N, Quận F chỉ khép hờ, nên đi đến dùng tay đẩy nhẹ cửa, bước vào bên trong thì thấy bà Nguyễn Thị Minh P đang nằm ngủ trên sàn nhà, bên cạnh có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax 64Gb màu đen, liền dùng tay phải lấy chiếc điện thoại này, rồi quay ra định tẩu thoát, nhưng bị bà P giật mình tỉnh dậy phát hiện tri hô, cùng những người xung quanh bắt giữ N giao Công an Phường 13, Quận 6 giải quyết.

Vật chứng thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax 64Gb, màu đen.

Tại Công an Phường 13, Quận 6 cũng như tại Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Lê Thị Cẩm N đều khai nhận nội dung nêu trên.

Bị hại và người làm chứng khai cũng tương tự.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 102/KL-HĐĐGTS ngày 08 tháng 11 năm 2023, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6 đã kết luận trị giá của chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax 64Gb, màu đen, số seri: F2LZ96DKN70C, số Imei: 353905100246282 (tình trạng sử dụng còn khoảng 80%) tại thời điểm ngày 01/11/2023 là: 8.500.000 đồng.

Ngày 07 tháng 11 năm 2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 182/QĐ-ĐTTH); khởi tố bị can đối với Lê Thị Cẩm N về tội «Trộm cắp tài sản» (Quyết định số: 187/QĐ-ĐTTH).

Tại Cáo trạng số: 96/CT-VKS-Q6 ngày 14 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Thị Cẩm N về tội «Trộm cắp tài sản» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Thị Cẩm N khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax 64Gb, màu đen của bà Nguyễn Thị Minh P tại nhà số 185/54 đường B, Phường N, Quận F vào sáng ngày 01/11/2023 và bị bắt quả tang như nội dung bản cáo trạng nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Thị Cẩm N như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Lê Thị Cẩm N từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» theo khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Thị Minh P không yêu cầu, nên không đề nghị giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 áo bằng vải ngắn tay màu đen (có hoa văn bông hoa); 01 quần bằng vải ngắn màu đen (có hoa văn bông hoa); 01 áo khoác bằng vải dài tay màu đen.

Đối với 01 USB (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh liên quan đến việc Lê Thị Cẩm N lấy trộm tài sản tại nhà số 185/54 đường B, Phường N, Quận F ngày 01/11/2023) do bà Nguyễn Thị Minh P cung cấp, đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngô Duy Linh và hai hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, là chứng cứ lưu hồ sơ, nên không đề nghị xử lý.

Còn các vật chứng khác, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Lê Thị Cẩm N nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Lê Thị Cẩm N tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản ghi nhận hình ảnh qua Camera, Khám nghiệm hiện trường ngày 01/11/2023 của Công an Quận 6 (kèm bản ảnh); Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Kết luận định giá tài sản số: 102/KL-HĐĐGTS ngày 08/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6; lời khai của bị hại Nguyễn Thị Minh P và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thị Cẩm N đã phạm tội «Trộm cắp tài sản». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

Bị cáo Lê Thị Cẩm N đã lợi dụng sự sơ hở của bà Nguyễn Thị Minh P, lén lút chiếm đoạt của bà P 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu đen, dung lượng 64Gb (số seri: F2LZ96DKN70C, số Imei: 353905100246282) trị giá 8.500.000 đồng tại nhà số 185/54 đường B, Phường N, Quận F vào sáng ngày 01/11/2023. Hành vi của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, trị an xã hội. Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội «Trộm cắp tài sản» thuộc trường hợp «tài sản bị chiếm đoạt trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Bị cáo Lê Thị Cẩm N là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng do tham lam, lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thị Cẩm N tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành, việc bị phát hiện bắt giữ là hoàn toàn ngoài ý muốn của bị cáo. Mặt khác, bị cáo có nhân thân rất xấu, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Lê Thị Cẩm N còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Việc bồi thường thiệt hại: Cơ quan điều tra đã xử lý trả 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax 64Gb, màu đen, số seri: F2LZ96DKN70C, số Imei: 353905100246282 cho bà Nguyễn Thị Minh P. Tại phiên tòa, bà P vắng mặt, nhưng tại Cơ quan điều tra bà P không có ý kiến hay yêu cầu gì về phần bồi thường (theo Biên bản ghi lời khai ngày 28/11/2023 và Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 25/12/2023 - BL75, 77), do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Việc xử lý vật chứng:

[7.1] Đối với 01 áo bằng vải ngắn tay màu đen (có hoa văn bông hoa); 01 quần bằng vải ngắn màu đen (có hoa văn bông hoa); 01 áo khoác bằng vải dài tay màu đen (bị cáo Lê Thị Cẩm N mặc lúc lấy trộm tài sản), là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 07/PNK ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 86/QĐ-VKS-Q6 ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa Công an Quận 6 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6)

[7.2] Đối với 01 USB (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh liên quan đến việc Lê Thị Cẩm N lấy trộm tài sản tại nhà số 185/54 đường B, Phường N, Quận F ngày 01/11/2023) do bà Nguyễn Thị Minh P cung cấp, đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngô Duy Linh và hai hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, là chứng cứ lưu hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo Lê Thị Cẩm N được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (do bị cáo là người cao tuổi và bị cáo có đơn đề nghị được miễn án phí).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Xử phạt bị cáo Lê Thị Cẩm N (Nguyễn Thị T, Lê Cẩm N, Hồng C) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản». Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2023.
  • - Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo bằng vải ngắn tay màu đen (có hoa văn bông hoa); 01 (một) quần bằng vải ngắn màu đen (có hoa văn bông hoa); 01 (một) áo khoác bằng vải dài tay màu đen.
  • (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)
  • - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Bị cáo Lê Thị Cẩm N được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo Lê Thị Cẩm N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Nguyễn Thị Minh P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 6;
  • - Công an Quận 6;
  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06);
  • - Chi cục THADS Quận 6;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Lê Thị Cẩm N (Nguyễn Thị T, Lê Cẩm N, Hồng C) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản». Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2023. - Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo bằng vải ngắn tay màu đen (có hoa văn bông hoa); 01 (một) quần bằng vải ngắn màu đen (có hoa văn bông hoa); 01 (một) áo khoác bằng vải dài tay màu đen. (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh) - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Lê Thị Cẩm N được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. - Bị cáo Lê Thị Cẩm N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Nguyễn Thị Minh P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger