Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày 09 tháng 12 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thuận Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Bích Ngọc và ông Nguyễn Thanh Tân.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 93/2024/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Đoàn Thanh B

sinh ngày 21/6/1969 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số A, đường T, khóm F, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Số F, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật Giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Đoàn Ngọc S và bà Trương Thị N; vợ là Nguyễn Thị Kim L và có 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/7/2022 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1992; nơi cư trú: Ấp G, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (hiện V đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A, có mặt);
  2. Ông Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác là Ba V1); nơi cư trú: Số A, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang, (hiện T đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A, có mặt);

Người làm chứng các Anh/chị: Trương Đức T1, sinh năm 1976 (vắng mặt); Nguyễn Văn Anh T2, sinh năm 1989 (vắng mặt); Nguyễn Hoài A, sinh năm 2000 (vắng mặt); Lê Phan Thúy Á, sinh năm 1995 (vắng mặt); Đặng Kim M, sinh năm 1970 (vắng mặt); Ngô Vũ P, sinh năm 1976 (vắng mặt); Nguyễn Ngọc C (T2), sinh năm 1981 (có mặt); Nguyễn Thị Mai A1, sinh năm 2002 (có mặt); Đỗ Thị Ánh H, sinh năm 1999 (vắng mặt); Dương Đức D, sinh năm 2002 (vắng mặt); Lê Đức V2, sinh năm 1990 (vắng mặt); Võ Văn T3 (P), sinh năm 1983 (vắng mặt); Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1967 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn V, Nguyễn Hoàng T, Trần Văn P1, Trương Đức T1 không có nghề nghiệp ổn định; để có tiền tiêu xài, V, T, Pháp, T1 gặp nhau tại nhà của V thuê thuộc khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang và bàn bạc cùng đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể như sau:

- Vụ 1: Khoảng 01 giờ ngày 22/3/2021, T1 điều khiển xe mô tô Sirius (không rõ biển số) chở V; P1 điều khiển xe mô tô Wave (không rõ biển số) chở T đi tìm tài sản để lấy trộm. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, khi đi ngang nhà Huỳnh Văn L1 ở ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang, cả nhóm phát hiện trong sân nhà của L1 có 02 xe mô tô, nên dừng lại; V và T xuống xe, còn T1 và P1 đậu xe gần đó chờ. V và T vào nhà lấy trộm xe mô tô Honda Air Blade, biển số 67B2-357.70 của L1 rồi chạy đi được một đoạn thì quay lại nhà L1 lấy trộm tiếp 01 xe mô tô Honda Vario, biển số 67B2-005.94, 01 máy tính xách tay hiệu HP và 01 điện thoại di động hiệu Samsung S8 của vợ chồng L1, Lời; sau đó, V và T điều khiển 02 xe vừa lấy trộm về hướng thành phố L. Đồng thời, V khoát tay ra hiệu cho T1, Pháp đã lấy trộm được xe để T1, P1 chạy theo và kêu cả 02 về nhà của V trước. V và T điều khiển 02 xe trộm được đến khu vực khóm T, phường M, thành phố L bán cho Trần Thanh M1 với giá 16.000.000 đồng; T cho M1 biết xe do trộm cắp mà có. Bán xe xong, V và T điện thoại cho T1, P1 đến rước về nhà của V. Tại đây, V chia tiền bán xe cho mỗi người được 4.000.000đ, T giữ điện thoại trộm được và sau đó bán cho người lạ giá 350.000đ. V bán L2 cho người tên Đ (không rõ họ, địa chỉ) giá 3.000.000đ, chia cho T 500.000đ.

Đến khoảng 05 giờ ngày 22/3/2021, M1 điện thoại cho người tên H1 (không rõ họ, địa chỉ), nhờ H1 điều khiển xe mô tô Honda Vario, biển số 67B2-005.94 và M1 điều khiển xe mô tô Honda Air Blade, biển số 67B2-357.70 đến thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang bán cho Hồ Văn S1. Khi đó, S1 biết 02 xe do trộm cắp mà có và mua với giá 24.000.000đ, S1 đưa trước 1.000.000đ và hẹn 08 giờ cùng ngày sẽ chuyển thanh toán số tiền còn lại. Sau khi mua xe, S1 nhờ Nguyễn Văn Q điều khiển xe mô tô Honda Vario, biển số 67B2-005.94 và nhờ M1 điều khiển xe mô tô Honda Air Blade, biển số 67B2-357.70 về nhà của S1 ở ấp T, xã N, huyện T, S1 không cho Q biết về nguồn gốc xe. Sau khi sự việc bị phát hiện, ngày 22/3/2021 và 16/4/2021, S1 và M1 đến cơ quan Công an đầu thú.

- Vụ 2: Vào khoảng 02 giờ ngày 15/4/2021, T điều khiển xe mô tô Wave (không rõ biển số) chở V đến khu vực phía sau Bệnh viện Đ1, phát hiện trong sân nhà trọ “M3”, đường Đ, khóm Đ, phường M, thành phố L, có dựng nhiều xe mô tô, nên dừng lại. V xuống xe, dùng mỏ lếch mang theo bẻ bản lề cửa hàng rào để vào nhà trọ lấy trộm xe mô tô Vario, biển số 67L2-376.92 của Nguyễn Hoài A và Lê Phan Thúy Á (vợ của Hoài A) đang ở trọ, sau đó T điều khiển xe mô tô Wave đẩy V ngồi trên xe vừa lấy trộm về đến khu vực phía sau trụ sở Ban chỉ huy quân sự thành phố L thuộc phường M, thành phố L, V liên hệ bán xe mô tô Vario, biển số 67L2-376.92 cho Đoàn T4 với giá 8.000.000đ, chia nhau mỗi người 4.000.000₫.

- Vụ 3: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 20/4/2021, T điều khiển xe mô tô Wave (không rõ biển số) chở V đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đến nhà Đặng Kim M (số C, đường T, khóm Đ, phường M, thành phố L), thấy trong sân có dựng 03 xe mô tô, T và V dừng lại trước nhà, T lấy chùm chìa khóa đã móc sẵn trên 01 xe mô tô đưa cho V mở cửa hàng rào, đi vào trong lấy trộm xe mô tô Wave ZX, biển số 67B1-277.87 của M dẫn ra rồi dùng đoản bẻ khóa nhưng còi hú nên tắt và dẫn xe đi. Sau đó, T dẫn xe này đi giấu trong hẻm gần đó rồi quay lại lấy thêm 01 xe mô tô Wave S, biển số 67B2-367.74 của M. Sau khi lấy trộm 02 xe mô tô của anh M, T và V mang xe đến khu S bán cho Đoàn Thanh B được 8.000.000đ, chia nhau mỗi người 4.000.000đ.

- Vụ 4 + 5: Khoảng 01 giờ ngày 23/4/2021, T điều khiển xe mô tô Wave (không rõ biển số) chở V đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khóm T, phường M, thành phố L phát hiện bên trong hàng rào của quán cà phê “Phương Quyên” có dựng 01 xe mô tô Click, biển số 67L1-552.48, T dừng xe lại, V đi đến dùng công cụ mang theo mở hàng rào, lấy trộm xe và 01 điện thoại di động hiệu Oppo của Ngô Vũ P; sau đó, T điều khiển xe mô tô Wave đẩy V ngồi trên xe vừa lấy trộm đến khu S. V liên hệ bán cho Đoàn Thanh B. Xong, T tiếp tục điều khiển xe mô tô Wave chở V đến nhà trọ “Ngọc M2” thuộc Tổ H, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, dùng mỏ lếch mang theo bẻ ổ khóa cửa hàng rào vào lấy trộm xe mô tô Future FI, biển số 67K1-849.23 của Nguyễn Thị Mai A1 mang đến khu vực cầu B trên đường H, phường M, thành phố L bán cho B. Khi T, V đến khu vực cầu B gặp Nguyễn Văn Anh T2 (bạn của B) đang đứng đợi. Ngay sau đó, B đi đến và cùng Anh T2 nhận xe từ V và T2. Xong, cả hai tiếp tục quay lại nhà trọ “Ngọc M2” lấy trộm xe mô tô Wave, biển số 67M1-732.99 của Đỗ Thị Ánh H và xe mô tô Future X, biển số 67M1-229.99 của Dương Đức D đang ở trọ và giao xe cho B tại khu vực cầu B. 04 xe mô tô trộm được, T2 và V bán cho B 27.000.000đ, chia nhau mỗi người 13.500.000đ.

- Vụ 6: Khoảng 02 giờ ngày 25/4/2021, T2 điều khiển xe mô tô Wave (không rõ biển số) chở V đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực ấp B, xã M, thành phố L, phát hiện nhà của Võ Văn T3, có hàng rào lưới B40, trong sân có dựng nhiều xe mô tô, T2 dừng lại, V đi tới dùng dây chì nhỏ mở 02 ổ khóa hàng rào rồi đi vào lấy trộm xe mô tô Winner, biển số 64K1-331.37 của Lê Đức V2 (em vợ của T3) mang đến khu S; V liên hệ bán cho Đoàn Thanh B, rồi quay lại nhà của T3 lấy trộm tiếp xe mô tô Wave, biển số 67L1-271.28 của T3 mang bán cho B. 02 xe mô tô, T2 và V bán cho B 12.000.000đ, chia nhau mỗi người 6.000.000₫.

- Vụ 7: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 26/4/2021, T2 điều khiển xe mô tô Wave (không rõ biển số) chở V đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đi ngang tiệm mua bán đậu của Trần Thị Mỹ H2 tại khóm C, phường M, thành phố L, V phát hiện có khóa cửa bên ngoài, nên V kêu T2 dừng xe cho V xuống, rồi T2 chạy đi ra đầu đường chờ. Vũ leo lên nóc nhà dùng kềm mang theo cắt tole, leo vào nhà rồi dùng mỏ lết cạy két sắt lấy trộm 230.000.000 đồng và 07 lượng vàng 24K. Xong, Vũ leo ra ngoài và gọi điện cho T2 đến chở về nhà của V. Tại đây, V và T2 chia đều nhau số tiền trộm được, riêng vàng thì bán được 314.000.000đ, V và T2 chia nhau mỗi người 157.000.000₫.

Ngày 29/4/2021, T2 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A đầu thú. Ngày 30/4/2021, V bị bắt giữ.

Ngày 13/10/2022, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án và tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Văn V 14 năm tù, Nguyễn Hoàng T 13 năm tù, Trần Văn P1 07 năm 06 tháng tù (tổng hợp hình phạt của 03 bản án), Trương Đức T1 03 năm tù cùng về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Trần Thanh M1 03 năm tù; bị cáo Hồ Văn S1 01 năm 06 tháng 21 ngày tù (bằng thời hạn tạm giam); bị cáo Đoàn Thanh B 04 năm tù và phạt bổ sung 30.000.000₫ cùng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Sau phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo V, T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo B kháng cáo kêu oan. Ngày 29/9/2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, tuyên xử: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo V (do bị cáo rút đơn kháng cáo); không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T1, giữ nguyên hình phạt của bị cáo T1 theo Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2022/HS-ST ngày 13/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đoàn Thanh B. Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2022/HS-ST ngày 13/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang về phần tội phạm và hình phạt đối với bị cáo B, chuyển hồ sơ vụ án đến Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang để điều tra lại theo quy định của pháp luật (Bản án hình sự phúc thẩm số: 795/2023/HS-PT ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh).

Kết quả điều tra lại, xác định được như sau:

Trong thời gian sinh sống tại thành phố L, Bình thường đến các tụ điểm đá gà, sòng tài xỉu để xem đánh bạc, nên quen biết Nguyễn Văn V, Nguyễn Hoàng T. Trong thời gian từ ngày 15/4/2021 đến ngày 25/4/2021, sau khi T, V lấy trộm xe mô tô, V liên hệ bán xe cho B, lấy tiền chia nhau tiêu xài như nội dung vụ án đã nêu. Sau khi B mua xe mô tô do V, T lấy trộm, B điều khiển xe đến các điểm đá gà, sòng tài xỉu bán cho nhiều người (không xác định được họ, tên, địa chỉ) thu lợi 1.000.000đ/xe, tổng cộng 9.000.000đ/09 xe mô tô.

Tại Kết luận định giá tài sản số 200/KL.HĐ, 138/KL.HĐ, 139/KL.HĐ, 152/KL.HĐ, 153/KL.HĐ ngày 24/5/2021, 11/6/2021, 05/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, tỉnh An Giang, kết luận:

  • - 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu H4, biển số 67L2-376.92: 64.550.000₫ x 80% = 51.640.000₫.
  • - 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu H5, biển số 67B1-277.87 đã qua sử dụng: 12.000.000đ x 01 chiếc = 12.000.000đ.
  • - 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu H6, biển số 67B2-367.74: 19.580.000₫ x 50% = 9.790.000đ. Tổng cộng trị giá: 21.790.000đ.
  • - 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu H7, biển số 67L1-552.48: 62.750.000₫ x 55% = 34.512.500₫.
  • - 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu H8, biển số 67M1-732.99: 18.250.000₫ x 90% = 16.425.000đ;
  • - 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu H9, biển số 67K1-849.23: 33.550.000₫ x 90% = 30.195.000₫.
  • - 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu H10, biển số 67M1-229.99 đã qua sử dụng: 24.500.000đ x 01 chiếc = 24.500.000đ.
  • - 01 xe mô tô hai bánh H8, biển số 67L1-271.28: 18.250.000₫ x 60% = 10.950.000₫.
  • - 01 xe mô tô hai bánh H11, biển số 64K1-331.37: 45.170.000₫ x 90% = 40.653.000₫.

Tổng cộng giá trị: 230.665.500đ.

Trần Văn B1, Trần Văn V3, S, Trương Thanh H3 Tại Cáo trạng số: 126/CT-VKSAG-P2 ngày 31/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố Đoàn Thanh B về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đoàn Thanh B vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng có mặt và vắng mặt đều khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo B phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 323, điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo: Đoàn Thanh B 02 năm 04 tháng 17 ngày tù bằng thời hạn tạm giam, phạt bổ sung bị cáo B từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giữ số tiền 9.000.000 đồng do Nguyễn Thị Kim L (vợ bị cáo B) tự nguyện giao nộp khắc phục tiền thu lợi bất chính của bị cáo B để đảm bảo việc thi hành án.

Lời nói sau cùng, bị cáo Đoàn Thanh B không có tranh luận và bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, một số người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Mặc dù bị cáo B đã biết rất rõ Nguyễn Văn V, Nguyễn Hoàng T có hành vi trộm cắp xe mô tô nhưng vẫn đồng ý tiêu thụ 09 xe mô tô biển số 67L2-376.92, biển số 67B1-277.87, biển số 67B2-367.74, biển số 67L1-552.48, biển số 67K1-849.23, biển số 67M1-732.99, biển số 67M1-229.99, biển số 64K1-331.37 và biển số 67L1-271.28 của vợ chồng Nguyễn Hoài A, Lê Phan Thúy Á, Đặng Kim M, Ngô Vũ P, Đỗ Thị Ánh H, Nguyễn Thị Mai A1, Dương Đức D, Võ Văn T3 (P), Lê Đức V2 với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt 230.665.500đ; bị cáo B đã thu lợi bất chính 9.000.000đ.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đoàn Thanh B đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm (tội phạm nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Đoàn Thanh B là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhằm thu lợi bất chính từ việc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đoàn Thanh B thực hiện hành vi “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và đã tác động gia đình nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính thể hiện đã thực sự ăn năn hối cải; bên cạnh đó,quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo là người đã trưởng thành, đầy đủ nhận thức và điều khiển được mọi hành vi của bản thân, có điều kiện làm ăn chân chính nuôi sống bản thân và gia đình. Nhưng vì hám lợi, biết rõ Nguyễn Văn V, Nguyễn Hoàng T có hành trộm cắp xe mô tô nhưng vẫn đồng ý tiêu thụ 09 xe mô tô với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt 230.665.500đ; bị cáo thu lợi 9.000.000đ. Hành vi bị cáo B là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính xem thường quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo đã bị tạm giam thời gian dài, trong qua trình bị tạm giam đã tích cực hợp tác cơ quan điều tra, chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật. Xét, thời gian bị cáo bị tạm giam cũng đủ để bị cáo thực sự ăn năn hối cải, có thể trở về hoà nhập cộng đồng mà không còn nguy hiểm cho xã hội; thế nên, xử phạt bị cáo hình phạt tù bằng thời hạn tạm giam như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng phát huy tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung xho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 323 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, ngoài hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn thì cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 10.000.000 triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

[7] Về vật chứng: đã được xử lí nên không đè cập xem xét tiếp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh B phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

1. Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 323, điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh B 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng 17 (mười bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/7/2022 (ngày hai mươi hai tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi hai).

Căn cứ Điều 299 và Điều 328 của Bộ Luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Đoàn Thanh B nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.

Phạt bổ sung bị cáo Đoàn Thanh B số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Buộc bị cáo Đoàn Thanh B nộp số tiền 9.000.000₫ thu lợi bất chính.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 9.000.000đ do phía gia đình bị cáo tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính để đảm bảo thi hành án theo Biên lai thu tiền số 0000107 ngày 09/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Đoàn Thanh B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Công an tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo và những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thuận Lợi

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 09 tháng 12 năm 2024.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên./.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Bích Ngọc

Nguyễn Thanh Tân

Nguyễn Thuận Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger