Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày: 08-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Tâm

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Thu Hà

- Bà Vũ Thị Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga - Thư ký, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.

Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức A - Kiểm sát viên;

Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/HSST ngày 02/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74A/2024/QĐXXST-HS ngày 16/7/2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở lại phiên toà số 69/TB-TA ngày 29/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Đức H; Sinh ngày 05/4/2004 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn C, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Bộ V (Đinh Quang V1) và bà: Bùi Thị H1. Chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị giữ khẩn cấp từ ngày 28/4/2024; Đang thực hiện Quyết định tạm giam 32 ngày (kể từ ngày 15/7/2024) của TAND thị xã Quảng Yên. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh Q; Có mặt.

* Bị hại: Nguyễn Hữu T, sinh năm 1989. Nơi thường trú: Thôn D, xã H, thị xã Q, Quảng Ninh; Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Bùi Văn C, sinh năm 1999. Nơi thường trú: khu G, phường N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
  2. Bà Tăng Thị D, sinh năm 1978. Nơi thường trú: khu H, phường Q, thị xã Q, Quảng Ninh; Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Tư T1, sinh năm 1956. Nơi thường trú: khu D, phường Y, thị xã Q, Quảng Ninh; Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
  4. Anh Đinh Quang P, sinh năm 2003. Nơi thường trú: thôn H, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
  5. Cháu Lê Quang V2, sinh ngày 20/6/2009. Nơi thường trú: khu C, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Lê Quang V2): ông Lê Văn H2, sinh năm 1959 (Là ông nội của Lê Quang V2). Nơi thường trú: khu C, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.

6. Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1977. Nơi thường trú: thôn C, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt.

* Người làm chứng:

  • - Ông Nguyễn Đình S, sinh năm 1963. Nơi thường trú: Tổ G, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Minh P1, sinh năm 1969. Nơi thường trú: Tổ G, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Văng mặt.
  • - Anh Vũ Hữu T2, sinh năm 1989. Nơi thường trú: khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Đức H làm thuê tại xưởng đá của anh Bùi Văn C tại khu F, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh đến tháng 3/2024 thì nghỉ việc nhưng vẫn ở nhờ tại xưởng. Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 26/4/2024, Lê Quang V2 (sinh ngày 20/6/2009) đến xưởng đá (nhà anh C) chơi với H. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày H điều khiển xe môtô BKS 14U1 - 020.99 (chủ sở hữu là anh Bùi Văn C) chở V2 đi quanh khu vực xã H, thị xã Q mục đích trộm cắp tài sản, V2 đồng ý. Cả 2 đi đến khu vực đường đê thuộc thôn C, xã H thì phát hiện đầm nuôi trồng thuỷ sản của anh Nguyễn Hữu T không có người trông coi, H dừng xe cho V2 đứng cảnh giới còn H vào sân trộm cắp đoạn dây điện dài khoảng 50m đang giăng ở bờ đầm rồi cuộn tròn đựng vào bao tải đưa cho V2; H quay vào lấy dao ở sân cậy cửa vào nhà trộm cắp 01 máy bơm nước, 01 loa di động, 01 bình ắc quy. Toàn bộ tài sản trộm cắp được, H và V2 mang về xưởng đá nhà anh C cất giấu. Đến 14 giờ cùng ngày, H và V2 mang 01 máy bơm nước và 01 bình ắc quy đi bán. Khi đến vườn hoa chéo thuộc khu H, phường Q, thị xã Q thì H và V2 bán 01 bình ắc quy giá 150.000 đồng cho người phụ nữ (không rõ lai lịch) thu mua phế liệu; còn máy bơm nước H và V2 mang đến cơ sở thu mua phế liệu của bà Tăng Thị D bán được 150.000 đồng. Sau khi bán xong, cả 2 quay về xưởng đá đốt cuộn dây điện trộm cắp được để lấy lõi đồng; đến khoảng 08 giờ ngày 27/4/2024, H và V2 mang lõi đồng đến cửa hàng phế liệu của ông Nguyễn Tư T1 tại khu D, phường Y, thị xã Q bán được 160.000 đồng và mang loa xách tay bán cho anh Đinh Quang P tại thôn H, xã H, thị xã Q được 300.000 đồng.

Ngày 28/4/2024, anh Nguyễn Hữu T đến Cơ quan Công an trình báo sự việc, tiến hành bắt khẩn cấp Đinh Đức H, tạm giữ xe môtô Honda Wave RSX màu đen BKS 14U1 - 020.99; Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã Q xác định chiếc xe không liên quan nên đã trả cho chủ sở hữu là anh Bùi Văn C.

Căn cứ lời khai của Đinh Đức H, Cơ quan điều tra triệu tập Lê Quang V2 đến điều tra và tiến hành truy tìm, thu giữ được vật chứng là 01 chiếc loa di động và 01 máy bơm nước (Vật chứng này, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu - anh Nguyễn Hữu T); Đối với bình ắc quy và lõi dây đồng không thu giữ được.

Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 29/4/2024 thể hiện: hiện trường xảy ra vụ việc được xác định tại nhà anh Nguyễn Hữu T - thôn C, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q, kết luận: 01 loa di động nhãn hiệu HLOV F4.5 đã qua sử dụng, giá trị còn lại 2.000.000 đồng; 01 máy bơm nước nhãn hiệu Thiên Long Thuần Yến công suất 2.2kw, loại thả chìm, đã qua sử dụng, giá trị còn lại 1.760.000 đồng; 01 bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai N40L 12V-40Ah đã qua sử dụng, giá trị còn lại 810.000 đồng; 50m dây điện dẹt 02 lõi, kích thước (2x4)mm, nhãn hiệu Cadisun đã qua sử dụng, giá trị còn lại 720.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 5.290.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đinh Đức H và cháu Lê Quang V2 đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Nguyễn Hữu T 1.530.000 đồng (giá trị của 01 bình ắc quy và 50m dây điện còn chiếc loa và máy bơm nước Cơ quan điểu tra đã trả lại). Bị hại không có yêu cầu nào khác.

Biên bản xác minh thông tin lý lịch bị can tại Công an xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh thể hiện: ông V1 (bố bị cáo Đinh Đức H) có 02 tên là Đinh Bộ V và Đinh Quang V1.

Cáo trạng số 1259/CT-VKSQY ngày 02/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo Đinh Đức H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đối với Lê Quang V2, khi thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng này V2 dưới 16 tuổi (14 tuổi 10 tháng 06 ngày) nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”, đã bị xử phạt vi phạm hành chính.

Ngoài ra, khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20/4/2024, tại xưởng làm đá của anh Bùi Văn C, H rủ V2 đi trộm cắp tài sản, V2 đồng ý. V2 điều khiển xe môtô BKS 14U1 - 020.99 (của anh C) chở H khi đến khu B, phường Q thì phát hiện đầm nuôi thuỷ sản của anh Nguyễn Văn Đ không có người trông coi, V2 dừng xe và đứng cảnh giới còn H vào chòi tôn trộm cắp 01 cuộn dây điện dài khoảng 25m và 01 đoạn dây điện dài khoảng 40m đang giăng từ chòi tôn ra bờ đầm. H và V2 mang về xưởng làm đá của anh C đốt cuộn dây điện trộm cắp được để lấy lõi đồng; đến khoảng 16 giờ cùng ngày H và V2 mang lõi đồng bán cho người phụ nữ bán phế liệu (không rõ lai lịch) được 550.000 đồng và đã cùng nhau chi tiêu cá nhân hết. Bản kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐG ngày 14/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q kết luận: 25m dây điện và 40m dây điện này trị giá 1.102.500 đồng. Gia đình H và V2 đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn Đ toàn bộ số tiền này, anh Đ không có yêu cầu nào khác. Hành vi trộm cắp tài sản này không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, không xảy ra liên tiếp với hành vi trộm cắp tài sản ngày 26/4/2024 và đã bị xử phạt vi phạm hành chính.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt Đinh Đức H từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2024.

Bị cáo Đinh Đức H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu, việc bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng người đúng tội không oan, đã được thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; được giải thích về việc công bố bản án trên Cổng thông tin điện tử. Việc trộm cắp tài sản là do bị cáo không có tiền chi tiêu cá nhân, tài sản của bị hại không có người trông coi nên bị cáo bột phát thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Toàn bộ số tiền có được do trộm cắp tài sản mà có, bị cáo H với V2 đã cùng nhau chi tiêu cá nhân hết. Bị cáo là người chủ động rủ rê V2 đi trộm cắp tài sản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - cháu Lê Quang V2 có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo Đinh Đức H và nội dung vụ án, trên đường đi H nói “đi xuống đây xem có gì để lấy không”, anh H nói vậy, V2 hiểu là đi trộm cắp tài sản vì cả 2 không có tiền để tiêu và chơi game. Khi đến khu vực bờ đê khu Đ, xã H thì anh H nói V2 đứng ngoài trông để H vào trong; H đã trộm cắp được khoảng 50m dây điện, 01 máy bơm, 01 loa kéo và 01 bình ắc quy. Toàn bộ số tiền bán tài sản trộm cắp, V2 và H sử dụng vào mục đích chi tiêu cá nhân hết.

Bị hại Nguyễn Hữu T có lời khai phù hợp với nội dung vụ án, sau khi sự việc xảy ra gia đình bị cáo H và cháu V2 đã đến gặp, xin lỗi, đền bù thiệt hại về tài sản thay bị cáo H và cháu V2 với số tiền 1.530.000 đồng. Anh T không yêu cầu bị cáo H và cháu V2 bồi thường gì khác và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Bùi Văn C khai: Xe môtô BKS 14U1 - 020.99 là của anh, anh cho H mượn làm phương tiện đi lại từ khi H còn làm việc cho anh. Anh không biết H dùng xe vào việc phạm tội. Anh C thương H vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tiền chi tiêu nên thỉnh thoảng cho H ngủ nhờ tại xưởng. Anh đã nhận lại xe và không yêu cầu H phải bồi thường về việc H dùng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Người làm chứng: Nguyễn Đình S khai: xe môtô Honda Wave RSX màu đen BKS 14U1 - 020.99 là của ông, ông đăng ký sở hữu tháng 7/2011 đến năm 2022 do không còn nhu cầu sử dụng nên ông S đã cho em trai là Nguyễn Minh P1 toàn quyền sử dụng. Ông Nguyễn Minh P1 khai: chiếc xe này trước đây là của anh ruột ông là ông Nguyễn Đình S, khoảng đầu năm 2022, ông S đã tặng ông P1 cả chiếc xe này và giấy tờ xe. Sau một thời gian sử dụng, ông P1 đã bán lại chiếc xe này cho ông Vũ Hữu T2 là chủ cửa hàng xe máy Tiến Tùng tại phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Việc ông bán chiếc xe là hoàn toàn tự nguyện và không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị H1 khai: gia đình đã thay bị cáo Đinh Đức H bồi thường cho bị hại và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường cho con.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tăng Thị D, ông Nguyễn Tư T1 và anh Đinh Quang P đều có lời khai phù hợp nội dung vụ án và đều không biết tài sản đã mua do H và V2 trộm cắp mà có, cụ thể: khoảng 13 giờ ngày 26/4/2024, Đinh Đức H và Lê Quang V2 mang theo 01 chiếc máy bơm đã cũ, hoen gỉ muốn bán; bà D nghĩ là máy bơm cũ của gia đình không sử dụng thì bán nên bà không hỏi nguồn gốc và trả giá 150.000 đồng thì cháu H đồng ý; khoảng 08 giờ ngày 27/4/2024, ông T1 đang ở nơi thu mua phế liệu thì H mang 01 cuộn lõi đồng dây điện đến bán, ông T1 cân được 02kg và trả 160.000 đồng, H đồng ý bán. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 27/4/2024, V2 điều khiển xe xe môtô chở H đến nhà anh P mang theo 01 chiếc loa di động hỏi anh P có mua loa của nhà H không, anh P hỏi nguồn gốc thì H trả lời gia đình để lâu không dùng nên muốn bán, anh P đồng ý mua và đã trả H 300.000 đồng tiền mặt. Chiếc loa và máy bơm nước anh P và bà D tự nguyện giao nộp để Cơ quan điều tra trả lại bị hại và không yêu cầu H, V2 trả lại tiền đã mua tài sản này.

Phần tranh luận: Không ai tranh luận;

Lời nói sau cùng: Bị cáo Đinh Đức H rất hối hận về hành vi trộm cắp tài sản của mình và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Đức H về việc thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và rủ Lê Quang V2 cùng lén lút, lợi dụng sơ hở không có người trông coi tài sản của bị hại để trộm cắp tài sản mục đích bán lấy tiền chi tiêu cùng nhau, phù hợp với lời khai của cháu Lê Quang V2 (người thực hiện hành vi cùng với bị cáo Đinh Đức H); phù hợp với lời khai của bị hại về việc mất tài sản, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc cho bị cáo ở nhờ, mua tài sản của bị báo mà không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có; phù hợp Quyết định tạm giữ đồ vật, tài sản, tài liệu; Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài sản, tài liệu; Bản ảnh; Sơ đồ hiện trường; Sơ đồ nơi xảy ra vụ việc; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Yêu cầu định giá tài sản và Bản kết luận định giá tài sản.

Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 57 phút ngày 26/4/2024, Đinh Đức H điều khiển xe môtô BKS 14U1 - 020.99 (chủ sở hữu là anh Bùi Văn C) chở Lê Quang V2 (14 tuổi 10 tháng 06 ngày) và rủ V2 đi trộm cắp tài sản lấy tiền chi tiêu cá nhân, khi đến khu vực thôn C, xã H, thị xã Q đã trộm cắp 50m dây điện dẹt 02 lõi, kích thước (2x4)mm trị giá 720.000 đồng; 01 máy bơm nước nhãn hiệu Thiên Long Thuần Yến công suất 2,2kw loại thả chìm trị giá 1.760.000 đồng; 01 loa di động nhãn hiệu HLOV F4.5 trị giá 2.000.000 đồng; 01 bình ắc quy Đồng Nai N40L 12V-40Ah trị giá 810.000 đồng của anh Nguyễn Hữu T, tổng trị giá tài sản 5.290.000 đồng.

Tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự:

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”

[3] Tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở, không có người trông coi để trộm cắp tài sản của bị cáo Đinh Đức H là vi phạm pháp luật, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân, xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân trên địa bàn xã H nói riêng và thị xã Q nói chung; Do đó, cần xử lý đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Đinh Đức H rủ rê cháu Lê Quang V2 cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khi cháu mới 16 tuổi do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Đinh đức H3 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xem xét cho bị cáo được hưởng mức án đầu khung hình phạt đảm bảo công bằng và thể hiện khoan hồng của pháp luật

Đối với hành vi của những người mua tài sản bị cáo Đinh Đức H trộm cắp nhưng không biết do trộm cắp mà có. Anh Bùi Văn C không cho bị cáo mượn xe xe môtô BKS 14U1-020.99 mà bị cáo tự ý sử dụng xe môtô vào việc phạm tội. Số tiền 1.530.000 đồng bà Bùi Thị H1 và ông Lê Văn H2 tự nguyện bồi thường cho bị hại đồng thời không yêu cầu phải trả lại. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[5] Về bồi thường dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì khác, HĐXX không đề cập giải quyết.

Vật chứng: Xe môtô BKS 14U1-020.99, 01 loa di động và 01 máy bơm nước, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, HĐXX không đề cập giải quyết.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng.

[7] Về án phí: bị cáo chịu theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự

Tuyên bố: Đinh Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Đinh Đức H 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2024

Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Đinh Đức H chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKS, CA, THADS Tx Quảng Yên;
  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo, bị hại, NCQL,NVLQ;
  • - CQCSĐT CA thị xã Quảng Yên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Đội HSNV CA Tx Quảng Yên;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Đức H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger