Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 87/2024/DSPT

Ngày: 21/8/2024

“V/v Tranh chấp phân chia tài sản

chung và thừa kế tài sản”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Thế Bình.

Các thẩm phán:Ông Hoàng Ngọc Sơn, ông Nguyễn Thanh Bình.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 21/8/2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 127/2024/TLPT-DS ngày 11/7/2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản và chia tài sản chung” do Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh bị kháng nghị theo Quyết định đưa xét xử phúc thẩm số: 126/2024/QĐXX- PT ngày 19 tháng 07 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn:

  1. Cụ Đào Thị H, sinh năm 1949. HKTT: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1972;
  3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1982;
  4. Cùng HKTT: Số B đường L, tổ A thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.

  5. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976.HKTT: Số C đường V, thôn Đ, xã Q, huyện S, Thành phố Hà Nội. (Cụ H, ông H1, bà H2, ông S đồng ý ủy quyền cho ông D đại diện tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm (có mặt).
  6. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1979. HKTT: SỐ F, ngách E H, phường V, quận B, Thành phố Hà Nội (có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1974. Trú tại: Số A, ngõ A, tổ A, thị trấn Đ, TP Hà Nội (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng các lời khai tại Tòa án đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn cụ Đào Thị H bày:

Cụ và cụ Nguyễn Văn N kết hôn với nhau, sinh được 05 người con gồm: Ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H3. Khi cụ N còn sống, cụ N, cụ H và các con trong gia đình có mua được thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23 diện tích 253m² có địa chỉ tại: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, trên đất có ngôi nhà cấp 4 (thửa đất hiện nay chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Sau khi mua đất, hai cụ và các con cùng sinh sống trên đất, đến năm 2002 khi các con trưởng thành lập gia đình riêng và chuyển đi nơi khác sống thì cụ N và cụ H có ý định phá bỏ ngôi nhà cấp 4 để xây dựng nhà mới, nhưng sau đó hai cụ chuyển ra ở cùng các con nên ý định xây dựng lại nhà ở trên đất được dừng lại.

Năm 2014 cụ N chết, khi chết cụ N không để lại di chúc. Năm 2023, gia đình cụ H làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 504. Quá trình triển khai thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được UBND xã P thực hiện các thủ tục niêm yết công khai hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ, tổ chức lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, xác nhận của UBND xã P về các thành viên có quyền lợi và nghĩa vụ đối với thửa đất và hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ cơ bản hoàn thành chỉ đợi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận theo quy định. Tuy nhiên do bà H3 là thành viên trong gia đình không đồng ý và yêu cầu chia quyền sử dụng đất nên thủ tục cấp GCNQSDĐ bị dừng lại. Sau khi thủ tục xin cấp giấy chứng nhận bị dừng lại, gia đình đã họp và đưa ra phương án để thỏa thuận phân chia tài sản di sản nhưng không được, do vậy các đồng nguyên đơn là cụ H, ông H1, ông D, ông S, bà H2 đề nghị tòa án giải quyết các yêu cầu sau:

  1. Xác định thửa đất số 504, tờ bản đồ 23, diện tích 253m² tại thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh là tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, chia tài sản chung cho các thành viên hộ gia đình theo quy định của pháp luật.
  2. Chia thừa kế phần quyền sử dụng đất của cụ N để lại trong khối tài sản chung của hộ gia đình cho các đồng thừa kế theo quy định pháp luật.

Các đồng nguyên đơn đề nghị chia tài sản chung và chia phần di sản do cụ N để lại bằng hiện vật. Đối với kỷ phần thừa kế được nhận từ di sản do cụ N để lại và phần quyền sở hữu trong khối tài sản chung của hộ gia đình cụ H, ông H1, ông S và bà H2 đồng ý chuyển giao cho ông D được quản lý, sử dụng phần quyền sở hữu, sử dụng tài sản của mình và đề nghị Toà án công nhận ý chí chuyển giao phần quyền thừa kế và phần quyền sở hữu tài sản của mình cho ông D.

Về án phí: Cụ H tham gia hội người cao tuổi, già yếu nên đề nghị Tòa án xem xét miễn giảm án phí cho cụ.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị H3 trình bày: Bà là con đẻ của cụ Đào Thị H và cụ Nguyễn Văn N, sinh năm 1949. Bố mẹ bà sinh được 05 người con gồm ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H3.

Mẹ bà là cụ Đào Thị H cùng các anh chị em trong gia đình khởi kiện yêu cầu chia thừa kế phần của cụ N, xác định phần của các thành viên trong gia đình đối với thửa đất số 504, tờ bản đồ 23, diện tích 253m² tại thôn Â, xã P, huyện T đã làm thủ tục nhưng chưa được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bà xác định thửa đất này hiện nay vẫn bỏ không, không có ai ở và quản lý vì các thành viên gia đình hiện nay sống ở Đ. Đối với yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn, quan điểm của bà xin nhận kỷ phần thừa kế bà được hưởng và phần quyền sở hữu của bà trong thửa đất đó. Song bà H3 không đồng ý chia thửa đất này cho tất cả các thành viên trong hộ gia đình bởi: Khi cụ N còn sống và công tác ở Nhà máy C, cụ N đã được cấp 01 thửa đất, thửa đất này của riêng một mình cụ N và có suất của bà tuy nhiên sau khi cụ N chết, mẹ bà là cụ H đã bảo bà và các thành viên làm thủ tục ký cho anh trai là Nguyễn Văn H1 và em trai Nguyễn Văn S, bà H3 xác định ông H1 và ông S đã được nhận tài sản thừa kế của ông N tại Đ nên ông H1 và ông S không được nhận nữa. Thửa đất số 504 chỉ được chia cho những người còn lại gồm: Bà, bà H2 và ông D (chia làm 3 phần cho 3 người được hưởng thừa kế) và bà có nguyện vọng xin được nhận di sản, tài sản bằng hiện vật để bà làm kỷ niệm và nơi thờ cúng tổ tiên.

Với nội dung trên tại Bản án dân sự số: 12/2024/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 235, 262, 264, 266, 267 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 105, 207, 212, 219, 612,613,614, 623, 649, 650,651,657, 660 Bộ luật dân sự. Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn.

  • Xác nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn N để lại trong khối tài sản chung của hộ gia đình là 36,14m².
  • Giao cho bà Nguyễn Thị H3 quản lý sử dụng 42,16m². Cụ thể: Phía Nam giáp đường tỉnh lộ 276 dài 3,50m; Phía Đông giáp phần đất giao cho ông D dài 12,05m. Phía Bắc giáp đất giao cho ông D dài 3,50m; Phía Tây giáp thửa 501 dài 12,05m.
  • Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Đào Thị H, bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Văn H1 và ông Nguyễn Văn S. Giao cho ông Nguyễn Văn D quản lý sử dụng diện tích đất còn lại 210,84m². Cụ thể: Phía Nam giáp đường T; Phía Đông giáp ngõ đi. Phía Bắc giáp thửa 503; Phía Tây Bắc giáp thửa 501 và phần đất giao cho bà H3 (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).

Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh sang tên và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra án sơ thẩm còn giải quyết tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, tiền chi phí định giá và án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi án sơ thẩm xử xong các đương sự không kháng cáo, ngày 12/6/2024 VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh có Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ- VKS- DS đề nghị sửa bản án sơ thẩm với căn cứ:

  • Thứ nhất: Trong phần nhận định của bản án sơ thẩm đã nhận định thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23 là tài sản chung của hộ gia đình, xác định phần quyền về tài sản của từng thành viên trong khối tài sản chung và phần quyền sở hữu của bà H3 trong khối tài sản chung, song tại phần quyết định của bản án không tuyên rõ yêu cầu này là vi phạm điểm c khoản 2 Điều 266 của BLTTDS;
  • Thứ 2: Bản án sơ thẩm giao và chia cho bà H3 được quyền quản lý, sử dụng 42,16m² nằm trong thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23, có địa chỉ tại thôn Â, xã P, huyện T, Bắc Ninh là chưa phù hợp và không đúng với quy định tại Quyết định số: 15/QĐ- UBND ngày 26/8/2021 của UBND tỉnh B quy định chi tiết Nghị định số: 148/2020/NĐ- CP hướng dẫn thi hành luật đất đai về diện tích và kích thước tối thiểu khi chia tách đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
  • Thứ 3: Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ về diện tích của thửa đất 504, tờ bản đồ số 23 của tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ lý do diện tích của thửa đất tăng do đâu dẫn đến chưa đủ căn cứ vững chắc để khẳng định quyền sử dụng đất hợp pháp.

Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh giữ nguyên Quyết định kháng nghị. số: 01/ QĐ- VKS- DS ngày 12/6/2024 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đề nghị sửa bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn D đại diện cho các nguyên đơn và bị đơn là bà Nguyễn Thị H3 đã tự thỏa thuận với nhau về việc ông D nhất trí cắt 27,84m² (tương ứng giá trị là 27,84m² x 17.000.000 đồng = 473.280.000 đồng) trong 210,84m² mà ông được nhận theo quyết định của Bản án sơ thẩm số: 12/2024/DSST ngày 29/5/2024 của TAND huyện Tiên Du sang cho bà Nguyễn Thị H3 để bà H3 được sử dụng phần đất có diện tích 70m² và H3 phải có nghĩa vụ trích trả cho các đồng sở hữu do ông D đại diện số tiền 473.280.000 đồng trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày xét xử phúc thẩm.

Cũng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát rút một phần căn cứ kháng nghị, đề nghị hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên án và ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở trình bày của các bên đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn thấy, các nguyên đơn đề nghị Tòa án xác định thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23, diện tích 253m² tại thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh là tài sản chung theo phần của các thành hộ gia đình, chia tài sản chung cho các thành viên hộ gia đình và chia di sản thửa kế là quyền sử dụng đất của cụ Nguyễn Văn N- sinh năm 1949 (chết năm 2014) cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào nội dung yêu cầu khởi kiện thấy Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là "Chia tài sản chung, chia thừa kế" và thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp tòa án và thẩm quyền theo lãnh thổ được quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35 và Điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về Nội dung: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh giữ nguyên nội dung Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ- VKS- DS ngày 12/6/2024 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đề nghị sửa bản án sơ thẩm. Xét nội dung và căn cứ kháng nghị của VKSND huyện Tiên Du là đúng thẩm quyền và trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét lại Bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm:

+ Xét các căn cứ kháng nghị tại quyết định kháng nghị của VKSND huyện Tiên Du thấy:

- Đối với nội dung kháng nghị về việc thu thập, xác định và đánh giá chứng cứ: Viện kiểm sát cho rằng theo như các giấy tờ, tài liệu thể hiện thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23 có diện tích 253m², hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận là 253m² theo kết quả đo đạc thực tế là 264,5m² (tăng 11,5m2), song trong quá trình xác minh, thu thập chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ lý do diện tích của thửa đất tăng thì vấn đề này quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm đã được làm rõ, lý do diện tích tăng là do lấn chiếm sang đất công. Do vậy khi xem xét giải quyết vụ án, tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23 có diện tích là 253m² với kích thước các cạnh phía Đông Giáp ngõ đi dài 16,39m; Phía Nam giáp đường T dài 15,50m; Phía Tây thửa 501 dài 16,46: Phía Bắc giáp thửa 503 dài 15, 36m là có căn cứ và đúng pháp luật.

+ Đối với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án thì thấy: Bản án sơ thẩm căn cứ vào nội dung yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu đề nghị chia tài sản chung của hộ gia đình và yêu cầu chia thừa kế phần di sản của cụ Nguyễn Văn N, sinh năm 1949 (chết năm 2014) trong khối tài sản chung của hộ gia đình cho những người thừa kế theo pháp luật, đồng thời bản án sơ thẩm căn cứ vào ý chí tự nguyện của cụ H, ông H1, bà H2, ông S về việc đồng ý giao cho anh Nguyễn Văn D có quyền quản lý, sử dụng phần quyền sở hữu của mình và kỷ phần thừa kế được chia do cụ N để lại giao cho ông Nguyễn Văn D được đứng tên sử dụng 210,84m² nằm trong diện tích của thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23, đối với diện phần đất còn lại là 42,16m² giao cho bà Nguyễn Thị H3 là xác định và chia đúng với phần quyền sở hữu và phần quyền hưởng di sản của mỗi người. Tuy nhiên xét việc chia và giao đất cho bà H3 được quản lý sử dụng 42,16m² tại thửa đất số 504, tờ bản đồ 23 của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa tuân thủ và thực hiện đúng tinh thần được quy định tại Quyết định số: 15/QĐ- UBND ngày 26/8/2021 của UBND tỉnh B quy định chi tiết Nghị định số: 148/2020/NĐ- CP hướng dẫn thi hành luật đất đai về diện tích và kích thước tối thiểu khi chia tách đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Cụ thể phần thửa đất tòa án cấp sơ thẩm giao cho chị H3 có diện tích 42,16m² là đất ở nông thôn tuy có vị trí nằm giáp với đường Tỉnh lộ 276 nhưng chưa có quyết định của cấp thẩm quyền phê duyệt làm khu đô thị mới do vậy bản án sơ thẩm giao cho bà được sử dụng phần diện tích đất nằm trong thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23 với diện tích 42,16m² là chưa tuân thủ và thực hiện đúng quy định tại Điều 6 Quyết định số: 15/QĐ- UBND ngày 26/8/2021của UBND tỉnh B ban hành chi tiết một số điều của Nghị định số:148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính Phủ sửa đổi bổ sung một số quy định chi tiết thi hành luật đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Ngoài những thiếu sót như đã phân tích tại quyết định kháng nghị, VKSND còn chỉ ra sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm trong cách tuyên án: Theo như yêu cầu khởi kiện, các đương sự đề nghị Tòa án giải quyết cho 02 yêu cầu:

Thứ nhất: Đề nghị Tòa án xác nhận thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23, diện tích 253m2 địa chỉ tại thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh là tài sản chung theo phần của cụ N, cụ H, ông H1, ông D, ông S, bà H2, bà H3 và chia tài sản chung cho các đồng sở hữu theo phần quyền của mình trong khối tài sản chung.

Thứ hai: Các đồng nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần di sản do cụ N để lại trong khối tài sản chung theo phần cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật. Song tại phần quyết định của bản án sơ thẩm lại không tuyên và quyết định đối với yêu cầu chia tài sản chung của đương sự một cách rõ ràng chi tiết, lẽ ra đối với yêu cầu chia tài sản chung tại phần quyết định tòa án cấp sơ thẩm phải tuyên rõ tài sản chung của các đồng sở hữu là tài sản gì đặc điểm thế nào, ở đâu từ đó xác định phần quyền sở hữu theo phần của mỗi đồng sở hữu là bao nhiêu, song án sơ thẩm lại làm tắt giải quyết luôn yêu cầu chia thừa kế và gộp phần quyền nhận di sản thừa kế với phần quyền sở hữu của mỗi sở hữu để giao và chia cho bà H3 và chia cho ông D mà không chia tài sản chung là chưa toàn diện.

Tuy nhiên tại phiên tòa ông D đại diện cho các đồng nguyên đơn và bà H3 đã tự thương lượng được với nhau về việc ông D đống ý cắt 27,84m² (tương ứng giá trị là 27,84m² x 17.000.000 đồng = 473.280.000 đồng) trong diện tích 210,84m² đất mà ông được giao theo như quyết định của Bản án sở thẩm số: 12/2014/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân huyên Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh sang cho bà Nguyễn Thị H3 để bà Nguyễn Thị H3 được nhận và sử dụng phần đất có diện tích 70m² và H3 trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày xét xử phúc thẩm phải có nghĩa vụ trích trả cho các đồng sở hữu do ông D đại diện nhận đủ số tiền 473.280.000 đồng. Xét nội dung thỏa thuận của ông D, bà H3 tại phiên tòa phúc thẩm là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội cần ghi nhận.

Từ những phân tích và nhận định như đã nêu thấy: Cần chấp nhận một phần quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DSST, ngày 29/5/2024 của TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh về cách tuyên án và sửa bản án sơ thẩm theo nội dung tự thỏa thuận của các đương sự theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn là cụ H, ông H1, bà H2, ông D, ông S.

  1. Xác nhận tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23 có diện tích 253m² tại: Thôn Â, xã P, huyên D, tỉnh Bắc Ninh là tài sản chung theo phần của các đồng sở hữu là cụ N, cụ H, ông H1, ông S, bà H2, bà H3 và ông D. Chia tài sản chung cho các đồng sở hữu mỗi đồng sở hữu được nhận và có quyền sử dụng là 36,14m² đất.
  2. Xác nhận phần di sản của cụ Nguyễn Văn N, sinh năm 1949 (chết năm 2014) để lại là 36,14m² đất nằm trong thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23, diện tích 253m² có địa chỉ tại: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Chia di sản thừa kế của cụ N để lại cho những thừa kế là cụ H, ông H1, ông S, bà H2, bà H3, ông D mỗi người được nhận nhận là 6,02m².
  3. Ghi nhận sự thỏa thuận của ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị H3 tại phiên tòa phúc thẩm về việc ông D đại diện cho các đồng nguyên đơn nhất trí cắt 27,84m² (tương ứng giá trị là 27,84m² x 17.000.000 đồng = 473.280.000 đồng) trong diện tích 210,84m² đất mà ông được giao đại diện nhận theo như quyết định của Bản án sơ thẩm số: 12/2024/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân huyên Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh sang cho bà Nguyễn Thị H3, để bà Nguyễn Thị H3 được nhận và sử dụng phần đất có diện tích 70m² và H3 phải có nghĩa vụ trích trả cho các đồng sở hữu do ông D đại diện nhận số tiền 473.280.000 đồng trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm..

- Giao cho bà Nguyễn Thị H3 được quản lý, sử dụng 70m² nằm trong thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ tại: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh và trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày xét xử phúc thẩm bà H3 phải có nghĩa vụ trích trả cho những người thừa kế còn lại do ông Nguyễn Văn D đại diện nhận số tiền chênh lệch là 473.280.000 đồng (vị trí phần đất bà H3 có tứ cận như sau: Phía Đông giáp phần đất ông D được giao dài 16,44m; Phía Nam giáp đường T 276 dài 4,26m,; Phía Tây giáp thửa số 501 dài 16,46m; Phía Bắc giáp thửa 503 dài 4,26m (có sơ đồ chi tiết kèm theo).

- Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Đào Thị H, bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Văn H1 và ông Nguyễn Văn S về việc giao cho ông Nguyễn Văn D có quyền quản lý, sử dụng phần diện tích còn lại của thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23 là: 185m² và số tiền chênh lệch do bà H3 thanh toán là: 473.280.000 đồng (vị trí phần đất ông D đại diện nhận có vị trí tứ cận như sau: Phía Đông giáp ngõ đi dài: 16,39m; Phía Nam giáp đường T dài: 11,24m; Phía Tây giáp phần đất bà H3 được giao dài: 16,44m; Phía Bắc giáp thửa 503 dài: 11,10m. (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông D, bà H3 quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

[4] Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của BLTTDS. Chấp nhận một phần kháng nghị của VKSND huyện Tiên Du, ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự về phương thức phân chia và nhận tài sản, di sản. Sửa Bản án sơ thẩm số 12/2014/DSST ngày 29/5/2024 của TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 235, 262, 264, 266, 267 và Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 105, 207, 209, 212, 219, 612,613,614, 623, 649, 650,651,657, 660 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn là cụ H, ông H1, bà H2, ông D, ông S.

  1. Xác nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23 có diện tích 253m² tại: Thôn Â, xã P, huyên D, tỉnh Bắc Ninh là tài sản chung theo phần của các đồng sở hữu là cụ N, cụ H, ông H1, ông S, bà H2, bà H3 và ông D. Chia tài sản chung cho các đồng sở hữu mỗi đồng sở hữu được nhận và có quyền sử dụng là 36,14m² đất.
  2. Xác nhận phần di sản của cụ Nguyễn Văn N, sinh năm 1949 (chết năm 2014) để lại là 36,14m² nằm trong thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23, diện tích 253m² có địa chỉ tại: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Chia di sản thừa kế của cụ N để lại cho những thừa kế là cụ H, ông H1, ông S, bà H2, bà H3, ông D, mỗi người được nhận nhận là 6,02m².
  3. Ghi nhận sự thỏa thuận của ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị H3 tại phiên tòa phúc thẩm về việc ông D đại diện cho các đồng nguyên đơn nhất trí cắt 27,84m² (tương ứng giá trị là 27,84m² x 17.000.000 đồng = 473.280.000 đồng) trong diện tích 210,84m² đất mà ông được giao đại diện nhận theo như quyết định của Bản án sơ thẩm số: 12/2024/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh sang cho bà Nguyễn Thị H3, để bà H3 được nhận và sử dụng phần đất có diện tích 70m² và bà H3 phải có nghĩa vụ trích trả cho các đồng sở hữu do ông D đại diện nhận số tiền 473.280.000 đồng trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao cho bà Nguyễn Thị H3 được quản lý, sử dụng 70m² nằm trong thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ tại: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh và trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày xét xử phúc thẩm bà H3 phải có nghĩa vụ trích trả cho những người thừa kế còn lại do ông Nguyễn Văn D đại diện nhận số tiền chênh lệch là 473.280.000 đồng (vị trí phần đất bà H3 có tứ cận như sau: Phía Đông giáp phần đất ông D được giao dài 16,44m; Phía Nam giáp đường T 276 dài 4,26m,; Phía Tây giáp thửa số 501 dài 16,46m; Phía Bắc giáp thửa 503 dài 4,26m (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
  • Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Đào Thị H, bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Văn H1 và ông Nguyễn Văn S về việc giao cho ông Nguyễn Văn D có quyền quản lý, sử dụng phần diện tích còn lại của thửa đất số 504, tờ bản đồ số 23 là: 185m² và số tiền chênh lệch do bà H3 thanh toán là: 473.280.000 đồng (vị trí phần đất ông D đại diện nhận có vị trí tứ cận như sau: Phía Đông giáp ngõ đi dài: 16,39m; Phía Nam giáp đường T dài: 11,24m; Phía Tây giáp phần đất bà H3 được giao dài: 16,44m; Phía Bắc giáp thửa 503 dài: 11,10m. (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông D, bà H3 quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

+ Chi phí xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chịu toàn bộ số tiền 10.000.000 đồng. Xác định nguyên đơn đã nộp đủ.

+ Về án phí dân sự sơ thẩm:- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Đào Thị H.

  • Ông Nguyễn Văn D phải chịu 130.675.000 đồng án phí DSST nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 5.500.000 đồng tại biên lai thu số: 0001307 ngày 27/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh;
  • Bà Nguyễn Thị H3 phải chịu 32.668.800 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm;

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND huyện Tiên Du;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Du;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ: Văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thế Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/DSPT ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp phân chia tài sản chung và thừa kế tài sản

  • Số bản án: 87/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phân chia tài sản chung và thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp phân chia tài sản chung và thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là Cụ Đào Thị Huýt, sinh năm 1949 và bị đơn là bà Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1974
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger