|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2024/DS-ST Ngày: 30-8-2024 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phấn
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Cao Thị Diệu Hiền
- Ông Nguyễn Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Bích Vân - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 và 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Phương Thảo V, sinh năm 1998
Địa chỉ: Số nhà D, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1995
Địa chỉ: Số nhà A, H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Huyền T, sinh năm 1995
Địa chỉ: Số nhà B, Lưu Văn L, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
Tại phiên tòa có mặt chị V và anh H; chị T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Đỗ Phương Thảo V trình bày:
Chị Đỗ Phương Thảo V có làm chủ hụi, loại hụi ngày mệnh giá 200.000đ, hụi bắt đầu khui từ tháng 12/2023, hụi đã mãn vào tháng 02/2024. Vợ của anh Nguyễn Thanh H là chị Lê Thị Huyền T có tham gia chơi 07 dây hụi ngày. Sau đó, chị T hốt 07 dây hụi ngày được số tiền bao nhiêu chị V không nhớ. Sau khi hốt hụi chị T có đóng hụi chết được vài ngày thì ngưng không đóng hụi chết nữa. Ngày 19/3/2024 chồng của chị T là anh Nguyễn Thanh H có đề nghị chị V viết giấy nợ nội dung “Anh Nguyễn Thanh H đóng hụi ngày chết 96.200.000đ, trả trước 36.200.000đ còn 60.000.000đ, mỗi ngày trả 200.000đ từ ngày 19/3/2024 cho chị Đỗ Phương Thảo V”. Từ ngày 19/3/2024 anh H có đóng cho chị V được 26 ngày với số tiền là 5.200.000đ thì ngưng đến nay không đóng cho chị V nữa. Chị V nhiều lần liên hệ yêu cầu anh H trả tiền nhưng anh H nói rằng tiền chị T nợ thì để chị T về giải quyết, hiện anh H và chị T không còn sống chung nữa.
Quá trình làm việc và tại phiên tòa chị V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị V yêu cầu anh Nguyễn Thanh H và chị Lê Thị Huyền T liên đới trả cho chị V số tiền là 54.800.000đ. Ngoài ra, chị V không có yêu cầu gì khác.
* Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bị đơn anh Nguyễn Thanh H trình bày:
Anh H xác định chị Lê Thị Huyền T là vợ của anh H, quá trình chung sống có 02 con chung. Hiện tại vợ chồng không còn sống chung, chị T bỏ nhà đi đâu anh H không rõ.
Trước đây, khi còn chung sống, chị T có chơi hụi do chị V làm chủ hụi, khi chị T chơi hụi không có nói cho anh H biết, đến khi chị T hốt hụi không có khả năng đóng hụi phía chị V thông báo cho anh H, anh H mới biết. Nghĩ tình nghĩa vợ chồng nên ngày 19/3/2024 anh H có đề nghị chị V viết giấy biên nhận xác định còn thiếu 96.200.000đ tiền hụi ngày chết và anh H có trả trước cho chị V số tiền 36.200.000đ, còn nợ lại 60.000.000đ, thỏa thuận mỗi ngày anh H sẽ đóng cho chị V 200.000đ (phần anh H 50.000đ, chị T 150.000đ) thời gian đóng từ ngày 19/3/2024, anh H thống nhất nội dung trong biên nhận và xác định chữ ký, ghi họ tên trong biên nhận ngày 19/3/2024 là của anh H.
Sau đó, mỗi ngày anh H đưa cho mẹ anh H 50.000đ, phần chị T là 150.000đ, nhờ mẹ anh H là bà Phạm Thị Cẩm H1 đóng cho chị V, đến nay đã đóng được bao nhiêu tiền anh H không xác định được. Do hiện chị T không còn khả năng đóng số tiền 150.000đ nên anh H không tiếp tục đóng tiền cho chị V và anh H cũng không đồng ý trả tiếp số tiền còn lại theo yêu cầu của chị V là 54.800.000đ vì đây không phải là tiền của anh H nợ chị V mà là tiền hụi của chị T nợ chị V, anh H chỉ là người đứng ra giải quyết vụ việc, anh H không có nghĩa vụ trả thay cho chị T.
Tại phiên tòa, anh H xác định trường hợp, Tòa án buộc anh H phải trả cho chị V số tiền 54.800.000đ thì anh H đồng ý và không yêu cầu chị T cùng liên đới với anh H trả tiền cho chị V. Ngoài ra, anh H không có ý kiến gì khác.
2
* Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Huyền T trình bày:
Chị T và anh H là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định, quá trình chung sống có 02 con chung, do vợ chồng có mâu thuẫn nên hiện chị T và anh H không còn chung sống với nhau.
Chị T thừa nhận có tham gia chơi hụi ngày do chị V làm chủ hụi, mệnh giá hụi là 200.000đ, chị V có tham gia 07 dây và đã hốt hết 07 dây, được số tiền bao nhiêu chị T không nhớ. Sau khi hốt hụi, chị T có đóng hụi chết được vài ngày thì ngưng không đóng tiếp. Qua biên nhận mà chị V cung cấp cho Tòa án đến ngày 19/3/2024, chị V có chốt hụi với anh H (chồng chị T) tiền hụi chết là 96.200.000đ, theo biên nhận anh H có trả cho chị V số tiền 36.200.000đ, còn nợ lại 60.000.000đ và thỏa thuận mỗi ngày trả 200.000đ tính từ ngày 19/3/2024 cho đến khi hết nợ. Chị T thống nhất với lời trình bày này của chị V. Sau đó, mỗi ngày chị V có góp 150.000đ, anh H là 50.000đ, gửi cho mẹ anh H đóng cho chị V, số tiền đóng được là (26 ngày x 200.000đ) 5.200.000đ. Như vậy hiện nay chị T còn nợ tiền hụi chết của chị V là 54.800.000đ.
Chị T đồng ý trả cho chị V số tiền nợ là 54.800.000đ, chị T không yêu cầu anh H liên đới với chị T trả nợ cho chị V. Ngoài ra, chị T không còn ý kiến gì khác.
* Ý kiến của vị Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Nguyễn Thanh H và chị Lê Thị Huyền T liên đới trả cho chị Đỗ Phương T1 Vy số tiền 54.800.000đ (Năm mươi bốn triệu tám trăm ngàn đồng).
Về án phí và chi phí tố tụng khác đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. (Có bài phát biểu kèm theo).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền nợ hụi nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hụi”.
[1.2] Về thẩm quyền: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Địa chỉ cư trú của bị đơn tại thành phố S nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
3
[1.3] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Huyền T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung tranh chấp, HĐXX nhận thấy:
[2.1] Về yêu cầu trả tiền nợ hụi: Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu anh Nguyễn Thanh H và chị Lê Thị Huyền T liên đới trả cho chị V số tiền nợ hụi là 54.800.000đ:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được các bên đương sự thừa nhận: chị T có tham gia chơi 07 dây hụi ngày do chị V làm chủ hụi, mệnh giá hụi là 200.000đ, chị V đã hốt hết 07 dây hụi, hiện hụi đã mãn. Sau khi hốt hụi, chị T có đóng hụi chết được vài lần thì ngưng. Đến ngày 19/3/2024, anh H có viết giấy nợ, nội dung là “Anh Nguyễn Thanh H đóng hụi ngày chết 96.200.000đ, trả trước 36.200.000đ còn 60.000.000đ, mỗi ngày trả 200.000đ từ ngày 19/3/2024 cho chị Đỗ Phương Thảo V” và sau đó đã trả cho chị V được số tiền là 5.200.000đ, còn nợ lại số tiền là 54.800.000đ. Do đó, đây là các tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Giữa chị V và chị T có phát sinh giao dịch đó là góp hụi. Mặc dù việc thỏa thuận góp hụi giữa các bên không lập thành văn bản, nhưng các bên cùng thừa nhận chị T là thành viên góp tiền hụi còn chị V là chủ hụi. Quá trình làm việc tại Tòa án chị T xác nhận hiện tại còn nợ chị V số tiền hụi là 54.800.000 đồng và cũng đồng ý trả số tiền này cho chị V.
Đối với anh H, cho rằng khi chị T chơi hụi anh H không biết. Tuy nhiên, sau khi anh H biết việc chị T có tham gia chơi hụi và còn nợ tiền hụi chết của chị V, anh H vẫn đồng ý đứng ra trả tiền thay cho chị T số tiền 36.200.000đ. Từ đó, chứng tỏ ý chí của anh H đồng ý trả tiền cho chị V mặc dù anh H không phải là người trực tiếp tham gia chơi hụi. Hơn nữa quá trình làm việc và tại phiên tòa, anh H xác định trường hợp Tòa án, buộc anh trả tiền cho chị V thì anh H đồng ý và không yêu cầu chị T liên đới với anh H trả tiền cho chị V.
[2.2] Về nghĩa vụ liên đới trả nợ:
Xét thấy, anh H và chị T thừa nhận hai người là vợ chồng chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, quá trình chung sống có 02 con chung. Số nợ trên phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Hơn nữa, sau khi tổng kết tiền nợ hụi, anh H mặc dù biết là tiền chị T nợ nhưng anh H vẫn đồng ý viết, ký tên trên biên nhận ngày 19/3/2024 và có trả cho chị V được số tiền là 36.200.000đ. Từ ngày 19/3/2024, anh H và chị T cùng tiếp tục trả cho chị V mỗi ngày là 200.000đ. Như vậy, việc anh H và chị T cho rằng số tiền nợ hụi là của chị T, trường hợp Tòa án xét xử buộc trả tiền cho chị V thì anh H và chị T không yêu cầu vợ chồng liên đới với nhau để trả tiền cho nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.
4
Vì vậy, anh H và chị T phải chịu nghĩa vụ liên đới trả nợ cho chị V số tiền 54.800.000đ là phù hợp với Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Từ những phân tích trên, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Phương Thảo V, buộc anh Nguyễn Thanh H và chị Lê Thị Huyền T liên đới trả cho chị Đỗ Phương T1 Vy số tiền là 54.800.000đ.
[4] Đối với ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về Họ, hụi, biêu, phường
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Phương Thảo V.
Buộc anh Nguyễn Thanh H và chị Lê Thị Huyền T liên đới trả cho chị Đỗ Phương T1 Vy số tiền là 54.800.000đ (Năm mươi bốn triệu tám trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Nguyễn Thanh H và chị Lê Thị Huyền T liên đới nộp 2.740.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho chị Đỗ Phương T1 Vy số tiền 1.370.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0004185, ngày 16/5/2024 và số tiền 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0007776, ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
5
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Phấn |
6
7
8
Bản án số 87/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hụi
- Số bản án: 87/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị V yêu cầu a H và chị T trả tiền hụi
