|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2024/DS-PT Ngày 26 - 11 - 2024 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng
Các thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trường và bà Điêu Thị Bích Lượt.
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 85/2024/DSPT ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXPT-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962
Nơi cư trú: Khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Đều có mặt).
-
Bị đơn: Vợ chồng ông Ngô Đại Q, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966.
Cùng địa chỉ: Khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
(ông Q vắng mặt nhưng ủy quyền cho bà H, bà H có mặt).
-
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Khuất Đăng K - Chủ tịch UBND huyện L, tỉnh Phú Thọ
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Thu P - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L, tỉnh Phú Thọ (có đơn xin xét xử vắng mặt).
-
Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Minh H1 - Chủ tịch UBND xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Triệu Đức T1 - Công chức Địa chính xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
-
Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện, Bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như tại phiên tòa, Nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ và bà Nguyễn Thị T thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông bà có thửa đất số 465, tờ bản đồ (TBĐ) số 21, diện tích 206m², tại khu C, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất ngày 29/12/2007 đứng tên vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ và Nguyễn Thị T). Thửa đất này giáp với thửa đất số 466 của vợ chồng ông Ngô Đại Q, bà Nguyễn Thị H. Nguồn gốc thửa đất này do ông bà nhận chuyển nhượng từ của ông B (hiện đã chết) từ năm 1996. Khi ông bà nhận chuyển nhượng thửa đất này thì thửa đất của vợ chồng ông Q, bà H đã được vợ chồng ông bà Q, H xây nhà và tại vị trí giáp với thửa đất của gia đình ông bà, ông bà Q, H cũng đã xây tường rào.
Năm 1997 ông bà xây nhà cấp bốn, năm 2011 ông bà xây nhà bếp. Khi xây dựng nhà và bếp không xảy ra tranh chấp với thửa đất liền kề. Năm 2013 ông Q, bà H phá bỏ nhà bếp để xây nhà tắm thì thợ xây nhà cho ông bà Q, H2 đã đào móng tường sang thửa đất của ông bà, ông bà có trao đổi với vợ chồng ông Q thì vợ chồng bà ông có nói là xây đúng mốc giới thửa đất nên ông bà không có ý kiến gì.
Năm 2017 vợ chồng ông Q, bà H tiếp tục xây nhà 2 tầng, sau đó làm nhà mái tôn để xe máy, xe đạp. Sau khi làm nhà để xe xong thì nước mưa của nhà để xe chảy sang đất của ông bà nên hai bên đã xảy ra tranh chấp. Do hai gia đình không tự giải quyết được nên đã đề nghị UBND xã T giải quyết. Khi UBND xã T giải quyết thì ông bà mới biết diện tích thửa đất của ông bà bị thiếu.
Nay ông bà xác định vợ chồng ông Q, bà H đã lấn chiếm khoảng 3-4 m² đất của thửa đất số 465, TBĐ số 21 của ông bà, tại vị trí bếp của gia đình ông bà và vị trí nhà tắm của gia đình ông Q, bà H. Do đó, ông bà đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Q, bà H phải trả lại cho ông bà khoảng 3-4 m² của thửa đất số 465, TBĐ 21 tại vị trí nhà bếp của ông bà và nhà tắm của gia đình ông Q, bà H, đồng thời tháo dỡ công trình xây dựng (nhà tắm) trên phần diện tích đất lấn chiếm.
* Tại Bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án bị đơn vợ chồng ông Ngô Đại Q và bà Nguyễn Thị H trình bày:
Ông bà có thửa đất số 466, TBĐ số 21, diện tích 200 m² tại khu C, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Thửa đất đã được UBND huyện L cấp GCNQSD đất ngày 29/12/2007 đứng tên ông Ngô Đại Q và bà Nguyễn Thị H). Thửa đất này giáp với thửa đất số 465 của ông Đ, bà T. Nguồn gốc thửa đất này do ông bà mua lại của HTX T2 năm 1993. Hiện nay thửa đất này ngoài tranh chấp với hộ ông Đ thì không tranh chấp với thửa đất liền kề nào khác. Sau khi mua đất của HTX Ô đã xây tường rào xung quanh bao gồm cả vị trí giáp với thửa đất số 465 của ông Đ, bà T.
Năm 1995 ông bà xây nhà cấp bốn và nhà bếp. Năm 2013 ông bà phá bỏ nhà bếp để xây nhà tắm và tường nhà tắm có xây áp vào tường nhà bếp của gia đình ông Đ. Năm 2017 ông bà phá bỏ nhà cấp bốn để xây nhà hai tầng như hiện nay và làm một nhà mái tôn để xe. Khi ông bà xây dựng không xảy ra tranh chấp với ai.
Đầu năm 2023 ông Đ, bà T cho rằng mái che nhà để xe ông bà nước mưa chảy sang đất của ông bà phải đề nghị UBND xã T giải quyết tranh chấp, khi giải quyết có đo lại diện tích thửa đất 466 của ông bà thì diện tích là 202 m². Như vậy, so với GCNQSD đất của ông bà thì diện tích tăng 2 m², nên ông Đ, bà T mới cho rằng, nguyên nhân tăng là do vợ chồng ông bà lấn chiếm đất của ông Đ bà T nên khởi kiện. Tuy nhiên, ông ông bà không biết nguyên nhân tại sao diện tích đất tăng nhưng ông bà không lấn đất của vợ chồng ông Đ, bà T.
Nay vợ chồng ông Đ bà T khởi kiện để yêu cầu ông bà phải trả lại khoảng 3-4 m² của thửa đất số 465, TBĐ 21 tại C, khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ đồng thời tháo dỡ công trình xây dựng trên phần diện tích đất lấn chiếm, quan điểm của ông bà không nhất trí vì ông bà đang sử dụng đất và xây dựng công trình đúng mốc giới thửa đất, không lấn chiếm sang thửa đất của ông Đ, bà T. Ông bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với việc ông Đ, bà T cho rằng nước mưa từ nhà để xe của ông bà chảy sang đất của ông bà Đ, T là không đúng vì ông bà đã làm máng nước để dẫn nước mưa chảy sang đất của ông bà.
* Đại diện UBND huyện L trình bày:
Về nguồn gốc của thửa đất số 465 của hộ ông Nguyễn Bình Đ, bà Nguyễn Thị T và thửa đất số 466 của hộ ông Ngô Đại Q, bà Nguyễn Thị H: Hai thửa đất này có nguồn gốc là đất được giao trái thẩm quyền và được xử lý cấp GCNQSD đất theo Quyết định số 4045 ngày 15/11/2002 của UBND tỉnh P.
Theo hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Bình Đ, bà Nguyễn Thị T năm 2007 thì ông Đ và bà T được UBND huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 465, TBĐ số 21, diện tích 206 m² (đất ở) tại khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Theo hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Ngô Đại Q và bà Nguyễn Thị H năm 2007 thì ông Q và bà H được UBND huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 466, TBĐ số 21, diện tích 200 m² (đất ở) tại khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Tuy nhiên, qua kiểm tra đối chiếu hiện trạng sử dụng đất hiện nay của vợ chồng ông Đ, bà T đối với thửa đất số 465 và thửa đất số 466 của gia đình ông Q, bà H thì có sự chênh lệch về diện tích. Riêng đối với thửa đất số 465 thì ngoài việc thay đổi diện tích thì còn có sự thay đổi hình thể thửa đất so với hình thể hiện tại GCNQSD đất cấp năm 2007.
Tại thời điểm cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 465 thì số đo các cạnh thể hiện tại sơ đồ trong GCNQSD đất không đúng với bản đồ địa chính đang lưu giữ tại UBND xã và hiện trạng sử dụng đất.
Đối với việc hiện trạng thửa đất số 465 hiện nay không đúng với hình thửa thể hiện tại GCNQSD đất quan điểm của UBDN huyện L như sau: Hai hộ đã sử dụng ổn định từ lâu và không có ý kiến tranh chấp gì về ranh giới. Sau khi được cấp GCNQSD đất hai hộ cũng không có ý kiến gì về diện tích, hình thửa thửa đất. Do đó, việc hình thể thửa đất số 465 có sự khác biệt so với hồ sơ địa chính và hiện trạng thửa đất là do sai sót trong quá trình đo đạc lập hồ sơ cấp GCNQSD đất (theo hồ lưu trữ do Văn phòng đăng ký đất đai huyện L cung cấp, thể hiện sơ đồ thửa đất được vẽ thủ công bằng tay nên độ chính xác chưa cao). Vì vậy, trường hợp này không cần thiết phải hủy GCNQSD đất đã cấp cho hộ ông Nguyễn Bình Đ và bà Nguyễn Thị T. Do hiện nay hai hộ đang có sự tranh chấp về ranh giới nên sau khi có kết quả giải quyết của Tòa án thì U yêu cầu công dân thực hiện việc đăng ký biến động đất đai, đính chính diện tích, hình thể thửa đất và cấp đổi giấy CNQSD đất.
* Đại diện UBND xã T, huyện L trình bày:
Về nguồn gốc của thửa đất số 465 của vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ, bà Nguyễn Thị T và thửa đất số 466 của vợ chồng ông Ngô Đại Q, bà Nguyễn Thị H: Hai thửa đất này có nguồn gốc là đất được giao trái thẩm quyền và được xử lý cấp GCNQSD đất theo Quyết định số 4045 ngày 15/11/2002 của UBND tỉnh P.
Theo hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Bình Đ, bà Nguyễn Thị T năm 2007 thì ông Đ và bà T được UBND huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 465, TBĐ số 21, diện tích 206 m² (đất ở) tại khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Theo hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Ngô Đại Q và bà Nguyễn Thị H năm 2007 thì ông Q và bà H được UBND huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 466, TBĐ số 21, diện tích 200 m² (đất ở) tại khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Tuy nhiên, qua kiểm tra đối chiếu hiện trạng sử dụng đất hiện nay của vợ chồng ông Đ, bà T đối với thửa đất số 465 và thửa đất số 466 của gia đình ông Q, bà H thì có sự chênh lệch về diện tích, hình thửa thửa đất so với GCNQSD đất cấp năm 2007. Cụ thể:
- Diện tích thực tế của thửa đất số 465 hụt 5,8 m², cạnh thửa có sự thay đổi về chiều rộng của thửa đất cụ thể về phía mặt đường bê tông tăng 0,42m, phía sau giảm 1,06m. Diện tích sau khi đo đạc theo hiện trạng là 200,2 m². Hình thể thửa đất theo hiện trạng hiện nay không đúng với hình thửa thể hiện tại GCNQSD đất đã cấp.
- Diện tích thực tế của thửa đất số 466 tăng 3 m², cạnh thửa có sự thay đổi về chiều rộng của thửa đất cụ thể về phía mặt đường bê tông tăng 0,78m, phía sau tăng 0,4m. Diện tích sau khi đo đạc theo hiện trạng là 203 m². Hình thửa hiện trạng thửa đất hiện nay về cơ bản không có sự thay đổi so với hình thửa thể hiện tại GCNQSD đất đã cấp.
Tại thời điểm cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 465 thì số đo các cạnh thể hiện tại sơ đồ trong GCNQSD đất không đúng với bản đồ địa chính đang lưu giữ tại UBND xã và hiện trạng sử dụng đất.
Qua kiểm tra số liệu diện tích trên Bản đồ số hóa năm 2000 tại tờ Bản đồ số 21 thì vị trí thửa đất số 465 của hộ ông Nguyễn Bình Đ số liệu diện tích ghi 206 m². Tuy nhiên, khi chạy trên phần mềm thì diện tích thửa đất số 465 là 196,7 m².
Qua kiểm tra số liệu diện tích trên Bản đồ số hóa năm 2000 tại tờ Bản đồ số 21 thì vị trí thửa đất số 466 của hộ ông Ngô Quang H3 số liệu diện tích ghi 200 m². Tuy nhiên, khi chạy trên phần mềm thì diện tích thửa đất số 466 là 203,5 m².
Theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 465, thửa đất 466 và khi lồng ghép thửa đất số 465, 466 lên bản đồ số hóa (bản đồ địa chính) thì thửa đất số 465 đang sử dụng lấn sang khỏi ranh giới của thửa đất số 466 là 0,23m (diện tích lấn sang theo kết quả đo là 2,3 m²).
Quan điểm của UBND xã đối với vụ án như sau:
- Về ranh giới, mốc giới sử dụng đất giữa hai thửa đất số 465, 466 của hộ ông bà Đ - T, Q - H3 từ trước đến nay các hộ đều sử dụng ổn định, không tranh chấp. Quá trình cấp GCNQSD đất giữa hai gia đình cũng không có ý kiến thắc mắc gì về diện tích. Về kích thước các cạnh của thửa đất tăng, giảm như thế nào gia đình ông bà Đ - T cũng không có ý kiến gì. Tuy nhiên, sau khi đo đạc của Dự án và sau khi công khai kết quả đo đạc gia đình ông bà Đ - T thấy thiếu hụt về diện tích so với GCNQSD đất nên gia đình ông bà Đ - T làm đơn đề nghị.
- Sau khi hai gia đình xảy ra tranh chấp và có đơn đề nghị giải quyết, UBND xã đã tổ chức hòa giải trên cơ sở xác định hai gia đình không có sự lấn chiếm nên đã hòa giải theo hướng đề nghị hai gia đình giữ nguyên hiện trạng. Việc hình thể thửa đất số 465 có sự khác biệt so với hồ sơ địa chính và hiện trạng thửa đất là do sai sót trong quá trình lập hồ sơ cấp GCNQSD đất.
Qua đối chiếu hiện trạng sử dụng đất và hồ sơ cấp GCNQSD đất thì giữa hai thửa đất không có sự lấn chiếm. Vì vậy UBND xã đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 175 Bộ luật Dân sự; Khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 170 Luật Đất đai; Khoản 9 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 165, khoản 1 Điều 188, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ, bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu vợ chồng ông Ngô Đại Q, bà Nguyễn Thị H phải trả lại diện tích đã lấn chiếm là 3-4 m² (đất ở) của thửa đất số 465, tờ bản đồ số 21 và phá bỏ toàn bộ công trình xây dựng (nhà tắm) trên phần diện tích lấn chiếm tại khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
* Về án phí: Vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ, bà Nguyễn Thị T được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
* Về chi phí tố tụng: Vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ và bà Nguyễn Thị T phải chịu 13.800.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm nghìn đồng) tiền chi phí tố tụng. Xác nhận ông Đ, bà T đã nộp đủ số tiền chi phí tố tụng.
Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, đồng nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ và bà Nguyễn Thị T kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ mới.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đồng Nguyên đơn có quan điểm cho rằng: Thửa đất số 465, tờ bản đồ số 21 của vợ chồng bà được cấp giấy chứng nhận diện tích 206m², tuy nhiên, khi đo thực tế chỉ còn 200,2m² là thiếu 5,8m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Nguyên nhân diện tích thiếu là do vợ chồng ông Nguyễn Đại Q1 và bà Nguyễn Thị H trong quá trình sử dụng thửa đất số 466 liền kề có hành vi lấn chiếm đất của vợ chồng ông bà nên ông bà yêu cầu vợ chồng ông Q1, bà H phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm 5,8m².
Đồng bị đơn có quan điểm cho rằng: Vợ chồng ông bà trong quá trình sử dụng thửa đất 466, tờ bản đồ số 21, tại khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ không có hành vi lấn chiếm thửa đất số 465, tờ bản đồ số 21 tại khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ của vợ chồng ông Đ, bà T nên ông bà không chấp nhận trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Đ, bà T.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa. Tại phiên tòa, HĐXX, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự đối với phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Nội dung kháng cáo của vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ và bà Nguyễn Thị T không có căn cứ. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông Đ, bà T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DSST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ và bà Nguyễn Thị T thuộc đối tượng được miễn án phí dân sự, nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho vợ chồng ông Đ, bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ và bà Nguyễn Thị T nộp trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên cần chấp nhận để xem xét nội dung kháng cáo.
-
Xét nội dung kháng cáo của vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ và bà Nguyễn Thị T thấy rằng:
- Căn cứ bản đồ địa chính do UBND huyện L và UBND xã T cung cấp thấy rằng: Sơ đồ địa chính làm căn cứ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007, thửa đất số 465 của vợ chồng ông Đ, bà T và thửa đất số 466 của vợ chồng ông Q1, bà H thể hiện hai thửa đất liền kề, có chung một cạnh và có điểm giáp danh giữa thửa đất số 465, thửa đất số 466, giao thửa đất số 460 và thửa đất số 463 tạo thành một điểm chung. Tuy nhiên, khi đo hiện trạng thửa đất số 465 và thửa đất số 466 lại không đúng với vị trí giao điểm với thửa đất số 460 và thửa đất số 463. Căn cứ vào bản đồ đo hiện trạng lồng ghép bản đồ địa chính thể hiện thực tế phần diện tích đất số 465 vợ chồng ông Đ, bà T sử dụng còn đang lấn sang phần thửa đất số 466 vợ chồng ông Q1 bà H đang sử dụng chiều dài cạnh là 0,23cm, tổng diện tích lấn sang thửa 466 theo bản đồ địa chính là 2,3m².
-
Căn cứ quan điểm của UBND xã T cũng như kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thấy rằng:
- Đối với thửa đất số 465: Tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng ông Đ, bà T được cấp diện tích 206m². Tuy nhiên, UBND xã T đã trả lời, căn cứ số liệu thể hiện trên phầm mềm thì diện tích thực tế thửa đất số 465 tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ có 196,7m² nhưng lại xác định diện tích 206m² để đề nghị UBND huyện L cấp giấy chứng nhận và được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng. Nên chỉ có cơ sở xác định diện tích đất thực tế thửa đất số 465 tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 là 196,7m². Khi đo thực tế hiện nay, diện tích thửa đất thực tế thửa 465 là 200,2m². Trong đó có 2,3m² đất thửa số 465 lấn sang phần đất thửa 466. Nên trừ diện tích 2,3m² này thì thửa đất số 465 diện tích là 197,9m² (lớn hơn 1,2m² so với thực tế được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
- Đối với thửa đất số 466: Tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện L đã cấp giấy chứng nhận cho vợ chồng ông Ngô Đại Q và bà Nguyễn Thị H là 200m². Tuy nhiên, UBND căn cứ số liệu thể hiện trên phầm mềm thì diện tích thực tế thửa đất số 466 tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND xã Tứ xác định là 203,5m² (tăng 3,5m²) so với diện tích ghi tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nên cũng không thể căn cứ vào diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 200m² được, mà phải xác định diện tích đất thửa 466 tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 203,5m². Tuy nhiên, khi đo thực tế hiện nay, diện tích thửa đất thực tế thửa 466 là 203m², diện tích còn nhỏ hơn so với diện tích thực tế tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 là 0,5m² và căn cứ vào sơ đồ lồng ghép tọa độ khi giải quyết tranh chấp thể hiện thửa đất số 466 vợ chồng ông Q, bà H sử dụng không lấn sang thửa đất số 465 của vợ chồng ông Đ, bà T mà vợ chồng ông Đ, bà T hiện sử dụng thửa đất số 465 đang lấn sang thửa đất số 466 của vợ chồng ông Q, bà H diện tích 2,3m².
Từ căn cứ đã nêu và phân tích ở trên thấy rằng: Không có căn cứ xác định vợ chồng bị đơn là ông Q, bà H trong quá trình sử dụng thửa đất số 466 lấn chiếm sang phần đất thửa 465 của vợ chồng ông Đ, bà T diện tích còn thiếu 5,8m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp (206m²). Tuy nhiên, tại cấp sơ thẩm vợ chồng ông Đ, bà T chỉ đề nghị vợ chồng ông Q, bà H phải trả lại phần diện tích lấn chiếm từ 3 đến 4m2, diện tích tranh chấp đo thực tế là 7,5m², nhưng không có căn cứ. Nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ, bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu vợ chồng ông Ngô Đại Q và Nguyễn Thị H phải trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là có căn cứ. Nên phải bác kháng cáo của vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ, bà Nguyễn Thị T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DSST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Tại Mẫu số 52 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) hướng dẫn, tại mục 25, thì ý kiến của VKS được ghi tại phần nội dung vụ án. Tuy nhiên, tại bản án số 25/204/DSST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao không ghi ý kiến của Kiểm sát viên tại phần này nhưng lại phân tích chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao vào phần nhận định của Tòa án (tại mục 26) là chưa đúng hướng dẫn viết bản án sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của vợ chồng ông Đ, bà T không có căn cứ nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên vợ chồng ông Đ, bà T thuộc đối tượng được miễn án phí dân sự nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho vợ chồng ông Đ, bà T.
- Về quan điểm việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ và bà Nguyễn Thị T.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ vào Điều 175 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 170 của Luật Đất đai;
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 165, khoản 1 Điều 188, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ, bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu vợ chồng ông Ngô Đại Q, bà Nguyễn Thị H phải trả lại diện tích đã lấn chiếm là 3-4 m² (đất ở); (diện tích tranh chấp đo thực tế 7,5m²), thuộc thửa đất số 465, tờ bản đồ số 21 và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện phá bỏ toàn bộ công trình xây dựng gồm mái tôn, (nhà tắm) của vợ chồng ông Ngô Quang Đ1 và bà Nguyễn Thị H thuộc thửa đất số 466, tờ bản đồ số 21, tại khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ, bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng: Vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ và bà Nguyễn Thị T phải chịu 13.800.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm nghìn đồng) tiền chi phí tố tụng. Xác nhận vợ chồng ông Nguyễn Đình Đ2 và bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ số tiền chi phí tố tụng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho vợ chồng ông Nguyễn Bình Đ và bà Nguyễn Thị T.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết kháng cáo và kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hán Hưởng |
Bản án số 87/2024/DS-PT ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 87/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
