Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 87/2024/DS - PT

Ngày 23 - 7 - 2024

V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Đại Long

Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến

Bà Lê Thị Tố Như

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hà – Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Bà Nguyễn Thanh Tâm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2024/DS-ST ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Thành, tỉnh Thanh Hóa bị kháng kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 53/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T - sinh năm: 1959 (Có mặt)

Địa chỉ: khu phố C, thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

- Bị đơn: Ông Lê Công T1 - sinh năm: 1978 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1:

Ông Nguyễn Ngọc K sinh năm 1986 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị C, sinh năm: 1960 (Có mặt)
  2. Bà Lê Thị X, sinh năm: 1964 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị C và bà Lê Thị X là: Bà Lê Thị T, sinh năm: 1959 (Có mặt)

Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  1. Bà Hà Thị K1, sinh năm: 1981 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

Nơi ở hiện nay: ĐL11, khu phố C, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

  1. Chị Lê Thị Kim L, sinh năm: 2001 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

Nơi ở hiện nay: Số nhà C, khu phố B, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương

  1. Ông Lê Công B, sinh năm: 1981 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, khu phố C, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương

  1. Chị Lê Thị Đ, sinh năm: 1983 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa

  1. Chị Lê Thị T2, sinh năm: 1988 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

  1. Bà Hà Thị T3, sinh năm: 1981 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn Tiên Hương, xã Thành Tân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa

  1. Bà Hoàng Thị M, sinh năm: 1947 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M: Bà Nguyễn Thị Nữ H - Trợ giúp viên pháp lý tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

Người kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị T cũng là đại diện theo ủy quyền của bà C, bà X trình bày:

Bố mẹ bà là cụ Lê Công L1 chết năm 2010 và cụ Lường Thị Q chết năm 2012. Bố mẹ bà sinh được 04 người con gồm bà Lê Thị T, Lê Thị X, Lê Thị C, Lê Công Q1 (Đã hy sinh năm 1972, chưa có vợ con), do ông Q1 đã hy sinh không có con trai nối dõi nên đến năm 1976 bố bà sang sống chung với cụ Hoàng Thị M tại thửa đất ở thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và sinh được 05 người con gồm: Anh Lê Công T1, Lê Công B, Lê Công H1 (Đã chết năm 2002, có vợ là Hà Thị K1, con là Lê Thị L), chị Lê Thị T2, Lê Thị Đ, ngoài ra cụ Hoàng Thị M có một người con riêng là anh Lê Văn T4. Năm 1988 bố bà đưa cụ M và các con lên ở với gia đình bà được hai tháng thì các bên xảy ra mâu thuẫn nên cụ M và bố bà đã về ở tại mảnh đất tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ở với cụ M và đi lại với nhau. Bố mẹ bà chết không để lại di chúc.

Khi còn sống, bố mẹ bà có tạo lập được khối tài sản gồm: 01 Thửa đất số 144, tờ bản đồ số 02, tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có diện tích là 3899m² trong đó có 400 m² đất ở và 3499 m² đất vườn Giấy chứng nhận QSDĐ số 00183 QÐSDĐ/QĐ-Ct ngày 28/03/2004 do UBND huyện T cho hộ ông Lê Công L1. Nguồn gốc thửa đất là do bố mẹ bà khai hoang từ năm 1961 và sinh sống ở đó.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản của bố mẹ bà theo quy định của pháp luật.

Theo sơ đồ đo đạc, thẩm định và định giá di sản đang tranh chấp ngày 29/7/2022 hiện có 01 Thửa đất số 144, tờ bản đồ số 22, tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có diện tích là 3333m² giá trị mảnh đất là: 449.861.000đ (bốn trăm bốn chín triệu tám trăm sáu mốt nghìn) trên đất có ngôi nhà 05 gian bằng gỗ cũ giá trị: 43.796.178 (bốn ba triệu bảy trăm chín sáu nghìn một trăm bảy tám đồng). Bà đề nghị chia bằng đất cho các bà T, C, X nếu phần đất có cây cối hoa màu của nhà anh T1 đề nghị anh T1 thu dọn hoa màu trả lại đất cho các bà sử dụng vì các bà không có nhu cầu sử dụng hoa màu của nhà anh T1.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và bị đơn anh Lê Công T1 trình bày:

Thống nhất với bà Lê Thị T về hàng thừa kế và quá trình cụ L1, cụ Q và cụ M sinh sống. Bà Lê Thị T yêu cầu chia di sản thừa kế là thửa đất số 144, tờ bản đồ số 02, tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa thì anh không đồng ý với ý kiến của bà T. Do nguồn gốc đất trên là Nhà nước cấp cho hộ gia đình do bố anh là cụ Lê Công L1 đứng tên, không phải cấp cho riêng cụ L1 và cụ Q. Khi nhà nước cấp đất thì các thành viên trong hộ khẩu của gia đình bao gồm: Cụ Lê Công L1, cụ Hoàng Thị M, anh Lê Công T1, chị Hà Thị T3 (vợ anh T1), anh Lê Công B, anh Lê Công T5, chị Hà Thị K1, chị Lê Thị Kim L. Sau khi họp bàn ngày 30/8/2023 (có biên bản họp gia đình kèm theo), những người có tên trong hộ khẩu nêu trên thống nhất không chia đất cho ai mà giữ nguyên hiện trạng như hiện nay (trong đó có anh B và chị K1 ở xa đã thống nhất qua cuộc gọi Zalo, những người còn lại có mặt thống nhất ký tên). Nếu Tòa án chia di sản thừa kế là đất thửa đất số 144, tờ bản đồ số 02, tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo quy định của pháp luật thì anh yêu cầu được tính công sức bảo quản, duy trì tài sản cho anh theo quy định của pháp luật vì vợ chồng anh đang canh tác và ở trên mảnh đất này từ năm 1988 cho đến nay, yêu cầu những người được chia đất phải trả lại tiền giá trị cây hoa màu cho vợ chồng anh.

Gia đình anh Lê Công T1 đang sinh sống trên mảnh đất của thửa đất số 144, thuộc tờ bản đồ số 02 với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y567053 tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có tổng diện tích ghi trên sổ là 3.899m². Đây là mảnh đất do bà nội anh Lê Công T1 là bà Hà Thị K2 từ năm 1963 đã đưa các con lên khai hoang mà có được.

Cùng sinh sống với bà Hà Thị K2 lúc bấy giờ có ông Lê Công L1 là con trai ruột và vợ cả của ông là bà Lường Thị Q. Cả hai có được 04 người con trong đó có: 01 người con trai và 03 người con gái.

Đến năm 1972 người con trai duy nhất của ông Lê Công L1 lúc bấy giờ đi bộ đội và hy sinh. Để có người nối dõi, năm 1976, ông Lê Công L1 quen biết với bà Hoàng Thị M và được anh em họ hàng hỏi cưới và đưa về chung sống cùng bà Q, từ đó sinh ra thêm 05 anh em chúng tôi (03 trai, 02 gái).

Do mâu thuẫn gia đình không thể sống chung nên năm 1978 ông Lê Công L1 và bà Hoàng Thị M cùng các anh em tôi ra sống tại thôn P, xã T để tiện chăm sóc và nuôi dạy các con. Cùng thời gian này, hai người con gái của bà Lường Thị Q đã lập gia đình và ra ở riêng, trên mảnh đất này chỉ còn bà Lường Thị Q và một người con bị thiểu năng sinh sống.

Cho đến năm 1987, bà Q và con gái đã tự ý dọn đi sinh sống tại nơi khác. Thấy mảnh đất của nhà bị bỏ hoang, bố mẹ và các anh chị em tôi đã dọn về đây sinh sống từ năm 1988. Trong quá trình sinh sống, bố mẹ tôi đã bỏ tiền xây dựng nhà cửa, cải tạo mảnh đất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với nhà nước từ năm 1988 cho tới nay.

Năm 2004, UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình chúng tôi với người đứng tên chủ hộ là bố tôi ông Lê Công L1. Thời điểm bấy giờ trong hộ khẩu của gia đình có bố, mẹ, vợ, chồng và các anh chị em của tôi.

Đến năm 2010 và năm 2012 lần lượt ông Lê Công L1 và bà Lường Thị Q qua đời mà không để lại di chúc gì, từ đó cho đến nay gia đình anh Lê Công T1 vẫn sinh sống trên mảnh đất này. Việc sinh sống và nguồn gốc mảnh đất của gia đình tôi đều có các hộ dân và chính quyền địa phương xác nhận. Gia đình tôi vẫn nộp đầy đủ các nghĩa vụ thuế đối với nhà nước và không có bất kỳ tranh chấp thừa kế nào cho đến khi tôi bị bà Lê Thị T là con gái của vợ cả bố tôi khởi kiện đòi chia quyền thừa kế mảnh đất trên.

Sau khi khởi kiện, ngày 22/02/2024 Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành đã mở phiên tòa xét xử vụ án dân sự vụ việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”. Tại bản án sơ thẩm số 05/2024/DS-ST, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành đã tuyên buộc gia đình tôi phải chia mảnh đất trên theo hướng thừa kế di sản thừa kế là tài sản của bố tôi và vợ cả của ông (bà Lường Thị Q). Việc chia thừa kế như trên hoàn toàn gây bất lợi và thiệt hại rất lớn cho gia đình ông Lê Công T1.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét các nội dung sau!

  1. Về nguồn gốc đất: Theo lời khai của bị đơn Lê Công T1 và lời khai của những người cao tuổi nắm bắt sự việc thì nguồn gốc thửa đất là của bà Hà Thị K2 (mẹ của ông Hà Công L2), được nhà nước giao khi lên xây dựng khu kinh tế mới. Do đó việc HĐXX phúc thẩm không xem xét cụ thể nguồn gốc đất và xác định nguồn gốc đất là của vợ chồng ông Lê công T6, và bà Lại Thị q là chưa đúng với quá trình diễn tiến lịch sử, sự thật khách quan, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các thừa kế của bà Hà Thị K2.
  2. Về xác định tư cách tham gia tố tụng:

Để xảy ra mâu thuẫn dẫn đến việc không thỏa thuận việc chia thừa kế mà phải nhờ đến sự can thiệp của Tòa án là do việc thỏa thuận chăm sóc bà Lê Thị X - bị bệnh về thần kinh. Năm 2015 ông T6 khi đó là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đã phải đưa bà X đi điều trị 01 năm tại bệnh viện đa khoa tỉnh T tuy nhiên bệnh tình không thuyên giảm, lúc nhớ lúc quên, và ngay trong biên bản thỏa thuận chia thừa kế ngày 23/11/2020, Bà Lê Thị T cũng là người ký giám hộ cho bà X. Tuy nhiên, quá trình xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Thạch thành không xem xét, yêu cầu người giám hộ cho bà Lê Thị X, đồng thời chấp nhận văn bản ủy quyền ngày 25/4/2022 Có xác nhận của UBND xã của bà Lê Thị X cho bà Lê Thị T là vi phạm tố tụng nghiêm trọng ảnh hưởng đế quyền, lợi ích hợp pháp của bà Lê Thị X.

  1. Về xác định quan hệ hôn nhân thực tế.

Thực tế hôn nhân của bà Hoàng Thị Q2 và ông Lê Công 1 đã kết thúc từ khi ông Lê Công L3 và vợ 2 là bà Hoàng Thị M ra ở riêng từ năm 1978. Giữa bà Hoàng Thị M và ông Lê Công L1 cũng được gia đình tổ chức hôn lễ, chung sống, có con chung, cùng nhau sinh con, xây dựng nhà cửa và chăm sóc nhau đến khi ông L1 qua đời, Do đó, việc V kháng nghị đưa bà Q2 là vợ hợp pháp của ông Lê công L4 là chưa phù hợp với quy định tại án lệ số 41 ngày 23/02/2021 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao. Áp dụng tinh thần án lệ nêu trên thì bà Hoàng Thị M đủ điều kiện được công nhận có hôn nhân thực tế với ông Lê công L4 và phải được đưa vào hàng thừa kế di sản của ông Lê Công L1.

  1. Năm 1987-1988, sau khi bà Q2 và con ra ở nhà tình nghĩa do xã xây dựng thì ông L1, bà M cùng nhau mua vật liệu về xây dựng nhà cửa trên mảnh đất mà bà K2 để lại (hiện gia đình ông T6 đang quả lý sử dụng).

Mặc dù quá trình xét xử sơ thẩm bà M không đưa ra yêu cầu cụ thể mà chỉ đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Tuy nhiên HĐXX sơ thẩm không làm rõ nội dung yêu cầu, xem xét công sức đóng góp của bà Hoàng Thị M trong việc duy trì, tôn tạo di sản là chưa phù hợp với quy định pháp luật.

  1. Về việc ông Hoàng Công t mua thêm diện tích đất nhập vào với diện tích đất đứng tên ông Lê Công L1 (hiện là di sản đề nghị chia thừa kế).
  2. Không đồng ý với kháng nghị của VKSND huyện Thạch Thành và phần bổ sung của VKSND tỉnh Thanh Hóa.

Từ các phân tích nêu trên có thể thấy việc Hội đồng xét xử sơ thẩm không làm rõ các tình tiết của vụ án dẫn đến ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, ảnh hưởng đến tính công minh, bình đẳng trong việc áp dụng quy định pháp luật giải quyết vụ án – những thiếu sót đó không thế khắc phục trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Do đó đề nghị HĐXX áp dụng quy định tại Khoản 3 Điều 148; Khoản 3 Điều 308, Khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên hủy bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DSST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị T3Lê Thị Đ trình bày: Các chị đều thống nhất với nội dung trình bày và những yêu cầu của anh Lê Công T1.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lê Công B trình bày:

Thống nhất về hàng thừa kế, quá trình cụ Lê Công L1, cụ Lường Thị Q và cụ Hoàng Thị M chung sống với nhau và sinh được các người con như nguyên đơn trình bày. Thống nhất di sản thừa kế của cụ L1 để lại. Lúc còn sống cụ L1 và các anh em trong gia đình họp và bàn bạc cho anh và anh cũng thống nhất để lại toàn bộ tài sản trên cho anh Lê Công T1, anh T1 có chuyển cho anh 200.000.000đ, khi họp thì anh chị em chỉ thống nhất bằng miệng, không có giấy tờ gì, nay anh chị em trong gia đình không thỏa thuận được với nhau nếu phải chia thừa kế thì phần của anh, anh nhường lại cho anh Lê Công T1.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị K1 trình bày: Chị là vợ của anh Lê Công H1 con trai của cụ Lê Công L1Hoàng Thị M, chị không liên quan gì đến tài sản thừa kế của cụ L1 nên bà Lê Thị T khởi kiện chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Kim L trình bày: Chị là con anh Lê Công H1, ông nội chị để lại tài sản là đất tại thôn T, xã T không có di chúc. Trước đây gia đình đã họp chia di sản chị đã nhận được số tiền 60.000.000₫ nên hiện nay bà T khởi kiện chị không liên quan tới phần di sản trên, phần đất chị được nhận chị đã nhượng lại cho anh Lê Công T1 và chị Hà Thị T3, nay chị không yêu cầu gì về phần tài sản này đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là cụ Hoàng Thị M trình bày: Về nội dung vụ án và nguồn gốc đất cùng xác định quan hệ hôn nhân thực tế thống nhất với bị đơn trình bày. Không đồng ý với kháng nghị của VKSND.

Cụ M lên xã T, Thạch T7 ở năm 1976 có một người con riêng là ông Lê Văn T4. Cụ và cụ Lê Công L1 quen nhau khi hoàn cảnh cụ L1 có người con trai đã hy sinh, cụ L1 muốn có người con trai để nối dõi nên hai bên quan hệ chung sống với nhau và có 05 người con gồm: Anh Lê Công T1, Lê Công B, Lê Công H1 (Đã chết năm 2002, có vợ là Hà Thị K1, con là Lê Thị L), chị Lê Thị T2, Lê Thị Đ, khi đó cụ M vẫn đang ở với cụ L1, cụ L1 có đón cụ về ở một thời gian nhưng không được nên cụ ra ở riêng. Nay bà T3 khởi kiện yêu cầu chia thừa kế của cụ L1 và cụ Q, cụ không có ý kiến gì đề nghị tòa án giải quyết theo pháp luật.

Mặc dù quá trình xét xử sơ thẩm cụ M không đưa ra yêu cầu cụ thể mà chỉ đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Tuy nhiên HĐXX sơ thẩm không làm rõ nội dung yêu cầu, xác định nguồn gốc đất, cũng như xem xét công sức đóng góp của cụ Hoàng Thị M trong việc duy trì, tôn tạo di sản là chưa phù hợp với quy định pháp luật.

Từ các phân tích nêu trên có thể thấy việc hội đồng xét xử sơ thẩm không làm rõ về nguồn gốc đất, cũng như các tình tiết của vụ án dẫn đến ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, ảnh hưởng đến tính công minh, bình đẳng trong việc áp dụng quy định pháp luật giải quyết vụ án – những thiếu sót đó không thế khắc phục trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Do đó đề nghị HĐXX áp dụng quy định tại Khoản 3 Điều 148; Khoản 3 Điều 308, Khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên hủy bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 22/2/ 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành.

Ngày 06/5/2024 Tòa án nhân dân tỉnh nhận được đơn khiếu nại của cụ M trình bày:

+ Nguồn gốc mảnh đất do mẹ chồng cụ là cụ Hà Thị K3 từ năm 1963 đã cùng các con khai hoang mà có được, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành không xác minh rõ nguồn gốc nên xác định di sản thừa kế là của cụ Lê Công L1

và cụ Lường Thị Q là chưa chính xác vì thửa đất này là của chồng cụ được hưởng từ mẹ chồng.

+ Từ năm 1978 chồng của cụ và cụ Lường Thị Q xảy ra mâu thuẫn nên chồng cụ đã đưa mẹ con cụ ra sinh sống tại thôn P, xã T để tiện chăm sóc và nuôi dạy các con. Đến năm 1987 thì bà Q tự ý dọn đi nơi khác ở nên năm 1988 vợ chồng cụ và các con đã sinh sống và xây dựng nhà cửa, cải tạo mảnh đất thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nước từ đó cho đến nay. Việc Tòa án Thạch T7 xác định cụ M không phải vợ của cụ L1 là không hợp lý bởi cụ M được anh em họ hàng của cụ L1 cưới hỏi về, cùng nhau sinh sống trước ngày 3/01/ 1987 nên cụ phải là người liên quan đến mảnh đất trên.

+ Năm 2024 thửa đất này được UBND huyện T cấp GCNQSD đất, cấp cho hộ ông Lê Công L1 là chủ hộ đứng tên trên mảnh đất. Sinh sống trên thửa đất này là vợ chồng và các con của cụ không liên quan đến các con của cụ Q nên việc xác định mảnh đất trên là di sản thừa kế là của chồng cụ với cụ Q là hoàn toàn không có căn cứ, trái pháp luật.

+ Căn cứ khoản 29 Điều 3 luật đất đai 2013 thì tại thời điểm cấp giấy cho đến bây giờ thì tất cả các thành viên có tên trong hộ khẩu của gia đình trước năm 2024 mà đủ điều kiện thì đều có quyền sử dụng và sở hữu thửa đất này. Tòa án nhân dân huyện Thạch thành đã không căn cứ vào quy định này để xác định quyền sử hữu hợp pháp của thửa đất này cho gia đình cụ đang sinh sống.

Đề nghị xem xét lại bản án và xác minh vụ việc một cách kỹ lưỡng, khách quan trả lại quyền và hợp pháp cho gia đình cụ.

Tại Bản án số 05/2024/DS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa đã quyết định: Áp dụng Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 271, 272 BLTTDS; Điều 623, 649, 650, 651, 652 Bộ luật Dân sự; Điều 100 Luật đất đai. Điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị Quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Lê Công L1 và bà Lường Thị Q theo pháp luật.
  2. Xác định di sản thừa kế của ông Lê Công L1 và bà Lường Thị Q để lại là thửa đất số 144, tờ bản đồ số 22, tại thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa có diện tích 3603m² đất gồm 400m² đất ở nông thôn và 3.203m² đất vườn. Thửa đất đã được UBND huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất hộ ông Lê Công L1 theo Giấy chứng nhận QSDĐ số 00183 QÐSDÐ/QĐ-Ct ngày 28/03/2004. Thửa đất có giá trị là: 454.451.000đ (bốn trăm năm tư triệu bốn trăm năm mốt nghìn). Xác định di sản của ông L1 gồm nhà và các công trình trên đất có giá trị: 43.796.178đ.

Xác định di sản của bà Lường Thị Q là 1801,5m² trong đó có 200m2 đất ở và 1.601,5m² đất vườn tương ứng với giá trị là: 227.225.500đ; Xác định di sản của ông L1 gồm là 1801,5m² trong đó có 200m² đất ở và 1.601,5m² đất vườn và tài sản trên đất có giá trị là: 271.021.678₫.

  1. Trích công sức duy trì, bảo quản khối di sản của bà Q cho ông Lê Công T1 và bà Hà Thị T3 bằng 300m² đất trong đó có 20m² đất ở và 280m² đất vườn giá trị là: 24.760.000đ.

Trích công sức duy trì, bảo quản khối di sản của ông L1 cho ông Lê Công T1 và bà Hà Thị T3 bằng 225m² đất, trong đó có 20m² đất ở và 205m² đất vườn có giá trị là: 23.485.000₫

  1. Chia di sản thừa kế của bà Lường Thị q1 và ông Lê Công L1:

4.1 Chia di sản thừa kế của bà Lường Thị Q cho bà Lê Thị X, bà Lê Thị C, bà Lê Thị T:

  • Chia cho bà Lê Thị T 500m² đất, trong đó có 60m² đất ở và 440m² đất vườn có giá trị là: 67.480.000đ, có tứ cận Phía Đông giáp đất nhà ông T1, bà T, phía Tây giáp đất nhà bà X, phía Nam giáp đường thôn, phía Bắc giáp đất nhà ông T1, bà Hà Thị T3 (Có sơ đồ kèm theo). Buộc ông T1 và bà Hà Thị T3 thu hoạch hoa màu trên mảnh đất này.
  • Chia cho bà Lê Thị X 500m² đất, trong đó có 60m² đất ở và 440m² đất vườn có giá trị là: 67.480.000đ có tứ cận Phía Đông giáp đất nhà bà T3, phía Tây giáp hộ nhà ông H2, phía Nam giáp đường thôn, phía Bắc giáp đất bà Lê Thị T (Có sơ đồ kèm theo). Buộc ông T1 và bà Hà Thị T3 thu hoạch hoa màu trên mảnh đất này.
  • Chia cho bà Lê Thị C bằng giá trị: 67.480.000đ (tương ứng với 500m² đất, trong đó có 60m² đất ở và 440m² đất vườn). Giao cho anh Lê Công T1 phần đất 500m², trong đó có 60m² đất ở và 440m² đất vườn của bà C được hưởng, anh Lê Công T1 phải trả số tiền 67.480.000đ cho bà Lê Thị C.

4.2. Chia di sản thừa kế của ông Lê Công L1: Di sản của ông Lê Công L1 còn 1.576,5m² đất trong đó có 180m² đất ở và 1.396,5m² đất vườn có giá trị là: 203.740.500đ và tài sản trên đất là 43.796.178đ. Chia di sản thừa kế cuả ông Lê Công L1 cho: Bà Lê Thị X, bà Lê Thị C, bà Lê Thị T, ông Lê Công T1, ông Lê Công B, bà Lê Thị Kim L, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị Đ bằng giá trị, mỗi người được hưởng bằng: 30.942.084₫.

Giao cho anh Lê Công T1 sở hữu diện tích đất 1.576,5m², trong đó có 180m² đất ở và 1.396,5m² đất vườn và tài sản trên đất của ông Lê Công L1 có giá trị là: 247.536.678đ. Ông Lê Công T1 phải có trách nhiệm thanh toán lại giá trị di sản thừa kế cho: Bà Lê Thị X, bà Lê Thị T, ông Lê Công B, bà Lê Thị Kim L, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị Đ mỗi người: 30.942.084₫

Ông Lê Công T1 phải thanh toán lại cho bà Lê Thị C tổng giá trị thừa kế của bà C đối với di sản thừa kế của bà Q và ông L1 là: 98.422.084đ

Ông Lê Công T1 được nhận tổng giá trị là: 55.064.584₫

Lê Thị C được nhận tổng giá trị là: 98.422.084₫

Lê Thị X được nhận tổng giá trị là: 98.422.084₫

Lê Thị T được nhận tổng giá trị là: 98.422.084₫

Hà Thị T3 được nhận giá trị là: 24.122.500₫

Ông Lê Công B, bà Lê Thị Kim L, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị Đ mỗi người được nhận tổng giá trị: 30.942.084₫.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự, người có nghĩa vụ không tự giác thi hành hoặc thi hành chậm số tiền trên thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 1,2 Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Anh Lê Công T1, bà Lê Thị T và bà Lê Thị X có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho các đương sự theo quyết định của bản án.

2. Về án phí:

* Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Miễn tiền án phí DSST cho bà Lê Thị T, bà Lê Thị X, bà Lê Thị C là người cao tuổi.

- Anh Lê Công T1 phải chịu 2.581.000đ án phí DSST và 65.000đ án phí dân sự sơ thẩm phần của chị Hà Thị Thu t1 là 2.646.000đ (hai triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).

- Anh Lê Công B, chị Lê Thị Kim L, chị Lê Thị T2, chị Lê Thị Đ mỗi người phải chịu 1.375.000đ án phí DSST và 65.000đ án phí dân sự sơ thẩm phần của chị Hà Thị Thu t1 mỗi người phải chịu là 1.440.000đ (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

* Về án phí dân sự phúc thẩm: Do viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành kháng nghị nên các đương sự không phải chịu.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND huyện Thạch Thành;
  • - Chi cục THADS h Thạch Thành;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/DS - PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 87/2024/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền thừa kế là đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger