|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2024/DS- PT
Ngày: 17/4/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Triệu Thị Luyện.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, ông Nguyễn Việt Hùng
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hải – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16/4/2024, ngày 17/4/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2024/TLPT- DS ngày 06/02/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 83/2024/QĐ-PT ngày 26/02/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2024/QĐ-PT ngày 26/3/2024 giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1946 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số F, ngõ C đường Â, N, T, Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Chị Lê Thị H1, sinh năm 1985 (Văn bản ủy quyền ngày 30/3/2023, có mặt tại phiên tòa ngày 16/4/2024, vắng mặt khi tuyên án ngày 17/4/2024)
Địa chỉ: HH01A khu đô thị T, C, T, Hà Nội.
Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1950 (có mặt)
Địa chỉ: Số B, ngõ A T, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà Phạm Thị T: Ông Đỗ Xuân T1 và bà Dương Thị Thanh N – Luật sư Văn phòng L Hà Nội, Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Ông Vũ Văn H2, sinh năm 1948 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, ngõ A T, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Vũ Văn H2: Ông Đỗ Xuân T1 và bà Dương Thị Thanh N – Luật sư Văn phòng L Hà Nội, Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt)
2.Ông Phan Khắc S, sinh năm 1942 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số H N, khu A phường T, thành phố H.
3.UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Phạm Thị H3 (Văn bản ủy quyền số 5077/QĐ-UBND ngày 18/9/2023 - vắng mặt).
4.UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn B - Chủ tịch UBND xã Q (vắng mặt).
* Người kháng cáo: Bà Phạm Thị T là bị đơn và ông Vũ Văn H2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà T có mặt, ông H2 vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị Liên H và bà Phạm Thị T là quan hệ quen biết hàng xóm với nhau từ thời nhỏ. Chồng bà H là ông Lê Hợp H4, ly hôn năm 2006. Vào ngày 05/8/2012, bà Phạm Thị T có viết giấy chuyển nhượng đất vườn vải viết tay cho bà H diện tích đất khoảng 0,4ha đất tại thôn T, xã P (nay thuộc xã Q), huyện L, tỉnh Bắc Giang, nguồn gốc diện tích đất này bà T được Nông trường Lục Ngạn thuộc Công ty cổ phần X giao khoán theo hợp đồng số 466/HĐK ngày 12/4/1998), thời hạn khoán là 50 năm (các điều khoản theo hợp đồng). Lý do bà H nhận chuyển nhượng diện tích đất trên của bà T là vào khoảng từ năm 2010 đến năm 2012 bà H có nhiều lần cho bà T vay tiền, thời điểm cuối cùng chốt nợ là vào tháng 5 năm 2012 bà T chốt nợ 11 tỷ 715 triệu. Tuy nhiên, bà H xác định việc vay nợ không liên quan đến việc bà T chuyển nhượng diện tích đất. Lý do bà T chuyển nhượng diện tích đất cho bà H là do bà T đang nợ bà H tiền và nợ rất nhiều tiền của nhiều người khác, sau khi chốt số nợ 11 tỷ 715 triệu với bà H, bà T muốn vay thêm tiền của bà H nhưng bà H không cho vay thêm nên bà T mới chuyển nhượng diện tích đất trên cho bà H.
Sau khi ký giấy viết tay chuyển nhượng đất, bà H đã đưa tiền mặt cho bà T 900 triệu (không phải như bà T trình bày là ép bà T chuyển nhượng đất để trừ nợ lãi khi bà T ốm). Việc chuyển nhượng mặc dù ông H2 không ký nhưng ông H2 biết việc bà T chuyển nhượng đất cho bà H. Vì khi trả tiền 900 triệu cho bà T thì bà H tiếp quản diện tích đất trên sử dụng, quản lý luôn từ năm 2012 cho đến nay. Bà H thuê ông S trông giữ vườn vải từ năm 2012 đến năm 2022 do bà H có đơn khởi kiện bà T nên bà H không thuê ông S nữa để giải quyết theo quy định pháp luật. Thời gian tiếp quản vườn vải thì bà H không tu tạo, xây thêm tài sản gì, tài sản trên đất hiện nay vẫn là các tài sản của bà T.
Nay bà H đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 0,4ha (kết quả đo thực tế hiện nay 3698,2m²) thuộc Đội 2, thôn T, xã P (nay thôn T xã Q), L, Bắc Giang ngày 05/8/2012 giữa bà H với bà T là có hiệu lực, buộc bà T phải làm thủ tục sang tên cho bà H theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, bà H đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, buộc bà T phải trả lại số tiền 900 triệu đồng, phải bồi thường thiệt hại là tiền chênh lệch giá đất và tiền đầu tư thuê người quản lý, chăm sóc vườn. Cụ thể: Từ tháng 8/2012 đến hết năm 31/12/2017 mỗi tháng là 2 triệu đồng (tính tròn đến tháng 8/2017 là 120 triệu đồng). Thời gian từ tháng 1 năm 2018 đến hết năm 2022 là 4 năm (tính tròn), mỗi tháng tháng 5 triệu đồng = 240 triệu đồng; tổng cộng là 360 triệu đồng. Ngoài ra bà H không yêu cầu bồi thường gì khác.
Bị đơn bà Phạm Thị T trình bày:
Bà và bà Nguyễn Thị Liên H là quan hệ quen biết, là hàng xóm với nhau từ thời nhỏ. Vào năm 1998 gia đình bà được Nông trường L giao khoán diện tích đất 0,4ha thuộc Đội 2, thôn T, xã P (nay thôn T xã Q) theo hợp đồng số 466/HĐK ngày 12/4/1998), thời hạn khoán là 50 năm (các điều khoản theo hợp đồng).
Do từ năm 1996 bà có làm ăn kinh doanh nên bà H có gửi một số tiền để cùng làm ăn kinh doanh (do sổ sách bà H giữ hết nên bà không nhớ cụ thể số tiền bao nhiêu), khi đưa tiền làm ăn kinh doanh thì bà phải trả lãi cho bà H theo lãi 6%/tháng. Từ năm 1996 đến năm 2011 giữa bà và bà H hàng tháng thanh toán cho nhau tiền gốc và lãi (tất cả những lần đó bà đều ghi vào sổ bà H nên bà không nhớ chi tiết). Đến năm 2012 do bà bị bệnh và chậm trả tiền lãi cho bà H nên ngày 05/8/2012 bà H ép bà phải viết giấy chuyển nhượng đất trên cho bà H với giá 900 triệu. Bà xác định giấy chuyển nhượng bà H nộp cho Tòa án là nội dung do bà viết và chữ ký của bà nhưng thực chất bà không nhận số tiền 900 triệu và không có việc chuyển nhượng đất như giấy chuyển nhượng bà đã viết. Diện tích đất trên hiện nay chưa làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2014 gia đình bà đã làm thủ tục cấp sổ đỏ theo chính sách chung Nhà nước nhưng chưa được cấp sổ đỏ. Diện tích đất trên là tài sản chung của vợ chồng bà. Tài sản trên đất hiện nay trồng vải và các cây khác. Gia đình bà vẫn đang quản lý.
Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H là đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng giấy viết tay ngày 05/8/2012.
Trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, bà đã được giải thích về về hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định pháp luật nhưng bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Phạm Văn H5 trình bày:
Vào năm 1998, Nông trường L đã giao khoán diện tích khoảng 0,4ha tại địa chỉ Đ, thôn T, xã P (nay thôn T xã Q) cho gia đình ông (theo hợp đồng số 466/HĐK ngày 12/4/1998), thời hạn khoán là 50 năm (các điều khoản theo hợp đồng). Việc bà T với bà H làm ăn kinh doanh đưa tiền cho nhau ông không biết và không liên quan. Việc bà T viết giấy chuyển nhượng đất ông không không biết. Ông không đồng ý việc chuyển nhượng này. Diện tích đất trên hiện nay chưa làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2014, gia đình ông đã làm thủ tục cấp sổ đỏ theo chính sách chung Nhà nước nhưng chưa được cấp sổ đỏ. Diện tích đất trên là tài sản chung của vợ chồng ông. Tài sản trên đất hiện nay trồng vải. Gia đình ông đang quản lý. Nay ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H là đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng giấy viết tay ngày 05/8/2012.
Trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, ông đã được giải thích về hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định pháp luật nhưng ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho ông.
Ông Nguyễn Khắc S1 trình bày:
Ông và bà H chỉ là mối quan hệ quen biết với nhau,không có mối quan hệ họ hàng. Vào khoảng 8/2012 bà H có thuê ông trông vườn vải ở thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang và thực hiện nghĩa vụ với địa phương. Hai bên có làm giấy ủy quyền ngày 02/10/2017, ông và bà H cùng ký kết, còn thời gian trước từ năm 2012 là hai bên chỉ thỏa thuận miệng. Về chi phí trả tiền trông nom vườn vải từ tháng 8/2012 đến hết năm 2017 mỗi tháng là 2 triệu đồng. Thời gian từ năm 2018 đến hết năm 2022 là mỗi tháng 5 triệu đồng. Ông xác định đến nay ông vẫn trực tiếp trông nom vườn vải đến hết năm 2022. Thu hoạch vườn vải hàng năm không thu hoạch được bao nhiêu (cụ thể ông không nhớ), chủ yếu mất mùa. Ông chỉ trông nom vườn vải và làm cỏ vườn nhưng không tôn tạo thêm tài sản gì. Việc bà H thuê ông trông vườn vải đến nay chưa trả tiền công thuê. Trong vụ án này ông chưa yêu cầu bà H phải thanh toán tiền công thuê theo thỏa thuận với bà H, sau ông sẽ yêu cầu sau khi bà H và bà T giải quyết tranh chấp với nhau xong.
Trong thời gian ông trông nom vườn vải cho bà H thì ông không thấy bà T lên thăm vườn lần nào, có khoảng năm nào ông không nhớ, thì ông có thấy ông H5 lên và có nói là vườn vải của gia đình ông H5 chưa giải quyết tranh chấp xong, chưa sang tên cho bà H thì vẫn là tài sản của ông H5 và bà T. Tuy nhiên ông chỉ là người làm công và không biết gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - UBND huyện L trình bày:
Về nguồn gốc diện tích đất 0,4ha tại thôn T, xã Q, L, Bắc Giang, vào năm 1998 thuộc quản lý của Nông trường L, Nông trường L thuộc Công ty cổ phần X đã giao khoán diện tích trên cho hộ gia đình bà Phạm Thị T (theo hợp đồng số 466/HĐK ngày 12/4/1998), thời hạn khoán là 50 năm. Theo Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 03/01/2014 của UBND tỉnh B thì UBND tỉnh B đã thu hồi diện tích đất trên 8067,4m² của Công ty cổ phần X giao cho UBND xã Q quản lý. Hiện nay diện tích đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai. Việc đánh giá tính hợp pháp của Hợp đồng chuyển nhượng đất trên là do Tòa án xem xét trên cơ sở pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan -UBND xã Q trình bày:
Về nguồn gốc diện tích đất 0,4ha tại thôn T, xã Q, L, Bắc Giang vào năm 1998 thuộc quản lý của Nông trường L, thuộc Công ty cổ phần X, Nông trường L đã giao khoán diện tích trên cho hộ gia đình bà Phạm Thị T (theo hợp đồng số 466/HĐK ngày 12/4/1998), thời hạn khoán là 50 năm. Theo Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 03/01/2014 của UBND tỉnh B thì UBND tỉnh B hiện đã thu hồi diện tích đất trên 8067,4m² của Công ty cổ phần X giao cho UBND xã Q quản lý. Diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai. Thực tế sử dụng đất trong sổ sách theo dõi quản lý ở địa phương thì ghi tên bà Phạm Thị T là người sử dụng diện tích đất trên. Quan điểm của UBND xã Q đề nghị Tòa án xem xét tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng đất trên của bà T và bà H theo quy định pháp luật.
Tại biên bản xác minh ngày 14/8/2023, cán bộ định chính xã Q cung cấp: Hiện nay diện tích đất trên theo sổ quản lý ở địa phương thì ghi tên bà Phạm Thị T là người được giao khoán trước đây và hiện tên người sử dụng diện tích đất trên ghi tên bà Phạm Thị T. Thực tế diện tích đất trên ai đang sử dụng địa phương không nắm được.
Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ông Hoàng Văn H6 (Hộ gia đình hàng xóm cạnh diện tích đất chuyển nhượng) cung cấp: Diện tích đất trên có ông S1 làm vườn ở trên đất đó, thỉnh thoảng cũng thấy ông H6 chồng bà T lên xem vườn xong lại về luôn, cụ thể ai là người sử dụng quản lý đất thì ông không nắm được.
Tại biên bản xác minh với địa phương (cán bộ văn phòng thống kê UBND xã Q) thì ngày công lao động phổ thông trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2022 tại địa phương giao bình quân động từ 100.000đồng đến 150.000 đồng/1 ngày.
Tại biên bản làm việc với Công ty cổ phần X1 - Do ông Nguyễn Đức H7 (Giám đốc đại diện trình bày): Vào năm, Nông trường L giải thể, Công ty X1 đã mua lại Nông trường L. Đối với diện tích đất Nông trường L đã giao khoán cho bà Phạm Thị T tại thôn T, xã Q, Công ty không quản lý diện tích đất này, không có quyền lợi liên quan, không yêu cầu gì, từ chối tham gia tố tụng.
Kết quả xem xét thẩm định, định giá tài sản ngày 27/6/2023.
Trị giá đất trồng cây lâu năm có giá 195.000đồng/1m².
Tài sản trên đất: 01 căn nhà cấp 4 hết giá trị sử dụng; 07 cây vải có đường kính tán lá từ 1m - 1,5m x515.000đồng = 3.605.000đồng; 75 cây vải có đường kính tán lá từ 3m – 3,5m x 3.305.000đồng = 247.875.000đồng; 15 cây bưởi có đường kính gốc từ 15cm - 20cm x 2.945.000đồng = 44.175.000đồng; 01 cây nhãn có đường kính tán lá từ 1m – 3 m x 455.000đồng = 455.000đồng.
Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 121, 122, 127, 128, 136, 137, khoản 3 Điều 219; Điều 450; 689, 693, 697 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; khoản 1 Điều 106; điểm b, khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm năm 2003.
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 147; Điều 165; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Liên H về yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/8/2012.
Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng ngày 05/8/2012 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất 0,4ha, đất trồng cây lâu năm (kết quả đo thực tế 3698,2m² ) tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang giữa bà Nguyễn Thị Liên H và bà Phạm Thị T là vô hiệu.
2. Giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu:
Buộc bà Phạm Thị T phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Liên H số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng); Bà Phạm Thị T phải bồi thường thiệt hại số tiền 238.629.500đồng (hai trăm ba mươi tám triệu, sáu trăm hai chín nghìn năm trăm đồng) cho bà Nguyễn Thị Liên H.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/11/2023, bà Phạm Thị T là bị đơn, ông Vũ Văn H2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nộp đơn kháng cáo, nội dung kháng cáo không đồng ý trả bà Nguyễn Thị Liên H số tiền 900 triệu đồng, không đồng ý bồi thường cho bà Nguyễn Thị Liên H số tiền 238.629.500 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn có mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn có mặt giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Bà T trình bày:
- Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H vì bà không bán đất cho bà H, việc chuyển nhượng đất là không đúng, không hợp pháp. Chữ viết trong giấy chuyển nhượng đất vườn vải ngày 05/8/2012 là do bà viết nhưng do bị bà H ép viết, không có việc bà H trả cho bà 900 triệu đồng tiền mặt. Từ năm 2012 đến nay bà không sử dụng diện tích đất này, không thu hoạch hoa quả trên đất do bị ép buộc.
- Diện tích 0,4ha đất trồng cây Nông trường Lục Ngạn giao khoán cho hộ gia đình bà. Thời điểm nhận khoán, gia đình bà có 05 thành viên gồm: Bà, ông Vũ Văn H2 (là chồng) và các con gồm Vũ Thị Quỳnh M - sinh năm 1974, Vũ Mạnh Q – sinh năm 1976, Vũ Công U –sinh năm 1980.
- Gia đình bà không biết Ủy ban nhân dân tỉnh B đã thu hồi diện tích đất giao khoán nêu trên. Nếu thu hồi phải bồi thường cây cối, tài sản trên đất cho gia đình bà.
Chị Lê Thị H1 – người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Không nhất trí với toàn bộ nội dung kháng cáo của bà T. Bà H nhận chuyển nhượng đất cùng toàn bộ tài sản, cây cối trên diện tích đất này của bà T. Diện tích đất và toàn bộ cây trồng, tài sản có trên đất hiện nay Ủy ban nhân dân xã Q đang quản lý.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị T và ông Vũ Văn H2 trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của bà T, ông H2, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn với lý do như sau:
- Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ (sổ hộ khẩu) để xác định hộ gia đình bà Phạm Thị T tại tại thời điểm được giao khoán sử dụng đất ngày 12/4/1998 có bao nhiêu thành viên dẫn đến bỏ sót người tham gia tố tụng là ba người con trong hộ gia đình bà T.
- Chưa thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh bà H đã trả bà T số tiền 900 triệu đồng; tài liệu chứng cứ về các khoản thu nhập từ việc thu hoạch vải từ năm 2012 đến khi xét xử sơ thẩm để làm căn cứ tính thiệt hại. Lời khai của bà H và ông S1 có mâu thuẫn nhưng không đối chất làm rõ.
- Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại (Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán) gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
- Giải quyết yêu cầu bổ sung yêu cầu khởi kiện của bà H sau khi đã mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không tranh luận gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự .
- Về việc giải quyết vụ án:
+ Tòa án sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (đưa thiếu người tham gia tố tụng; thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không thông báo thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải...). Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị T, ông Vũ Văn H2, hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân huyện L.
+ Chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
+Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị T, ông Vũ Văn H2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị T, ông Vũ Văn H2 làm trong thời hạn, theo đúng quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên là đơn kháng cáo hợp lệ. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Người kháng cáo là ông Vũ Văn H2 vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bà Phạm Thị T, ông Vũ Văn H2, Hội đồng xét xử thấy: Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ như sau:
[3.1] Tại Đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Liên H yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, buộc bà T trả lại quyền sử dụng đất, trả bản gốc “Hợp đồng khoán đất trồng cây lâu năm giữa Công ty X và bà Phạm Thị T đã ký kết”. Tòa án sơ thẩm đã thụ lý yêu cầu khởi kiện của bà H theo quy định pháp luật.
[3.2] Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa hòa giải ngày 22/8/2023 (BL 193) bà H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nêu trên đồng thời trình bày: Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu, bà H đê nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, buộc bà T trả lại số tiền 900 triệu đồng, bồi thường tiền chênh lệch giá đất và tiền đầu tư thuê người quản lý, chăm sóc vườn cây từ tháng 8/2012 đến hết năm 2022 với số tiền 360 triệu đồng. Phiên họp công khai chứng cứ ngày 22/8/2023 bị đơn là bà T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông H2 đều vắng mặt. Ngày 28/8/2023, Tòa án cấp sơ thẩm bán hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.
[3.3] Tòa án cấp sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử, chấp nhận xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, chấp nhận giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của hợp đồng vô hiệu sau khi đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng không làm các thủ tục tố tụng để thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (yêu cầu nguyên đơn làm đơn đề nghị miễn nộp tạm ứng án phí; ban hành thông báo miễn nộp tạm ứng án phí); không có Thông báo thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án; không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, tiến hành phiên hòa giải đối với yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu,yêu cầu bồi thường thiệt hại; không thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ ngày 22/8/2023 cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt là vi phạm về thủ tục tố tụng theo Điều 146, Điều 195, Điều 196, điểm g khoản 2 Điều 203, Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo Điều 70, Điều 199 Bộ luật Tố tụng dân sự (bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không được biết về yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn để thực hiện quyền cung cấp tài liệu chứng cứ, thể hiện quan điểm, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải).
[3.4] Nguồn gốc diện tích đất bà T chuyển nhượng cho bà H là đất Nông trường L thuộc Công ty cổ phần X giao khoán cho hộ gia đình bà T, tại thời điểm chuyển nhượng trên đất có cây trồng, nhà ở. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ để làm rõ tại thời điểm được giao khoán đất cũng như tại thời điểm chuyển nhượng đất hộ gia đình bà T có những thành viên nào để đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan từ đó dẫn đến đưa thiếu người tham gia tố tụng là vi phạm khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3.5] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản xác định trên diện tích đất bà T chuyển nhượng cho bà H có cây cối lâm lộc trị giá 296.110.000đồng. Các đương sự xác định toàn bộ cây trồng trên đất là do bà T trồng, bà H thuê người chăm sóc. Theo cung cấp và trình bày của Ủy ban nhân dân huyện L, Ủy ban nhân dân xã Q thì diện tích đất bà H8 nhận chuyển nhượng của bà T năm 2014 Ủy ban nhân dân tỉnh B đã thu hồi và giao cho Ủy ban nhân dân xã Q quản lý (theo Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 03/01/2014 của UBND huyện L – BL 201) và hiện nay Ủy ban nhân dân xã Q đang quản lý. Theo điểm c khoản 1 Điều 1 Hợp đồng khoán đất trồng cây lâu năm số 466/HĐK ngày 12/5/1998 giữa bên giao khoán là Nông trường Lục Ngạn với bên nhận khoán là hộ bà Phạm Thị T thì quyền của bên nhận khoán “Được đền bù giá trị đã đầu tư trên đất nhận khoán trong trường hợp bị nhà nước thu hồi một phần hoặc toàn bộ đất nhận khoản để sử dụng vào mục đích khác do cấp có thẩm quyền quyết định”. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà T phải trả cho bà H số tiền 900 triệu đồng, buộc bà T bồi thường toàn bộ cho bà H số tiền 238.629.500 đồng thiệt hại do hợp đồng vô hiệu bao gồm khoản tiền chênh lệch đất, tài sản trên đất, tiền công chăm sóc nhưng chưa xem xét, giải quyết về cây trồng, công trình có trên đất; chưa thu thập làm rõ khi thu hồi diện tích đất đã thực hiện việc bồi thường tài sản, cây cối lâm lộc trên diện tích đất giao khoán cho ai không; việc Ủy ban nhân dân xã Q có quyền lợi và phải có nghĩa vụ gì khi quản lý diện tích đất được giao không là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự.
[3.6] Theo lời khai của bà H, sau khi nhận chuyển nhượng đất, bà H thuê ông Phạm Khắc S2 trông nom vườn vải từ năm 2012 đến năm 2022 với giá thỏa thuận từ 02 đến 05 triệu đồng/1 tháng. Theo Hợp đồng trông đồi vải ngày 05/8/2012 do ông S2 cung cấp thì số tiền công bà H trả ông S2 là 2.000.000đồng/tháng. Tại biên bản lấy lời khai (BL 134) ông S2 trình bày “về chi phí trả tiền công trông nom vườn vải từ tháng 8/2012 đến hết năm 2017 mỗi tháng là 2 triệu đồng; thời gian từ năm 2018 đến nay mỗi tháng 5 triệu đồng; hai bên có làm giấy ủy quyền ngày 02/10/2017 còn thời gian trước từ năm 2012 hai bên chỉ thỏa thuận miệng”. Lời khai ông S2 và giấy tờ do bà H cung cấp có sự mâu thuẫn nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa đối chất làm rõ. Tòa án sơ thẩm chưa thu thập tài liệu chứng cứ xác định mức tiền công bà H thuê ông S2 là 5.000.000 đồng/ tháng đã buộc bà T phải bồi thường là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Toàn bộ hoa lợi, lợi tức bà H là người thu hoạch từ năm 2012 đến khi xảy ra tranh chấp (năm 2020) nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà T phải bồi thường toàn bộ thiệt hại bao gồm cả công chăm sóc, quản lý là chưa đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
[3.7] Do Tòa án sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự nên căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự cần hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết lại theo thủ tục chung.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng được xem xét,quyết định lại khi Tòa sơ thẩm giải quyết lại vụ án
[5] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà T, ông H2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị T, ông Vũ Văn H2, xử:
- Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Gang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng: Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Phạm Thị T, ông Vũ Văn H2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Triệu Thị Luyện |
Bản án số 87/2024/DS- PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 87/2024/DS- PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hđ chuyển nhượng quyền sd đất giữa bà H và bà T
