|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 87/2024/DS-PT
Ngày: 15/11/2024.
V/v “Tranh chấp đòi lại tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Lương Quang
- Các Thẩm phán: ông Ngô Chịu và bà Vũ Ngọc Hà
- Thư ký phiên toà: bà Trương Cẩm Nhung – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 72/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”, do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST- DS ngày 04 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Phạm Thị H, sinh năm 1993; Nơi cư trú: thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: bà Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1978; Nơi cư trú: thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn - Chị Trần Thị Mỹ D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/3/2024 và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:
Từ ngày 20/4/2023 (âm lịch) chị H và chị D chơi huê (hụi) với nhau, chị D làm chủ huê, chị H chơi 01 chân huê, mỗi tháng nộp cho chị D 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), nộp được 5 tháng là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
Đến ngày 15/5/2023 (âm lịch), chị H tiếp tục chơi chân huê thứ 2, nộp được 4 tháng, mỗi tháng 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), thành tiền là 24.000.000đ (Hai mươi bốn triệu đồng).
Đến ngày 16/6/2023 (âm lịch), chị H tiếp tục chơi chân huê thứ 3, nộp được 03 tháng, mỗi tháng 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), thành tiền là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng).
Đến ngày 28/7/2023 (âm lịch), chị H tiếp tục chơi chân huê thứ 4, nộp được 02 tháng, mỗi tháng 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), thành tiền là 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng).
Đến ngày 16/8/2023 (âm lịch), chị H tiếp tục chơi chân huê thứ 5, nộp được 01 tháng, mỗi tháng 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), thành tiền là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).
Đến ngày 26/8/2023 (âm lịch), chị H tiếp tục chơi chân huê thứ 6, nộp được 03 tháng, mỗi tháng 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), thành tiền là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng).
Ngoài ra ngày 17/7/2023 (âm lịch) chị H đưa cho chị D số tiền 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng), thoả thuận mỗi tháng chị D trả cho chị H cả gốc và lãi là 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng), đã trả được 03 tháng là 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng), còn nợ lại 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền gốc.
Ngày 28/6/2023 (âm lịch) chị H đưa cho chị D số tiền 36.000.000đ (Ba mươi sáu triệu đồng), thoả thuận mỗi tháng chị D trả cho chị H cả gốc và lãi là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng), đã trả được 03 tháng là 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng), còn nợ lại 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) tiền gốc.
Tổng số tiền tính đến thời điểm khoanh nợ (ngày 03/12/2023), chị D còn nợ chị H 130.500.000đ (Một trăm ba mươi triệu năm trăm nghìn đồng) nhưng khi làm giấy khoanh nợ chị H và chị D thống nhất ghi thành 131.000.000đ (Một trăm ba mươi mốt triệu đồng). Tại đơn khởi kiện chị H yêu cầu chị D trả cho chị H số tiền 131.000.000đ (Một trăm ba mươi mốt triệu đồng) nhưng quá trình giải quyết vụ án, chị H thay đổi yêu cầu khởi kiện, chị H yêu cầu chị D phải trả cho chị H số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
*Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, bị đơn chị Trần Thị Mỹ D trình bày:
Chị D thừa nhận chị D và chị H có chơi huê (hụi) với nhau, lời trình bày của chị H về thời gian, phương thức và số tiền chơi giữa chị D và chị H là đúng.
Chị D và chị H tham gia chơi huê với nhau từ năm 2020. Trong quá trình chơi, chị H tham gia chơi 5 chân huê, tổng số tiền gốc 90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng), tiền lãi phát sinh mỗi tháng chị D phải trả cho H là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), chị D thực hiện việc trả lãi cho chị H từ tháng 6/2020 đến tháng 9/2023 tức 39 tháng x 6.000.000đ/ tháng = 234.000.000đ (Hai trăm ba mươi bốn triệu đồng).
Đến ngày 28/02/2023 âm lịch chị D vay của chị H số tiền 36.000.000đ (Ba mươi sáu triệu đồng), không lập giấy tờ, tiền lãi chị D trả cho chị H là 1.000.000đ/tháng, khi được 06 tháng chị D đã trả cho chị H cả gốc và lãi là 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu đồng) (trong đó tiền gốc là 36.000.000đ và tiền lãi trong 6 tháng là 12.000.000đ), khoản tiền này đã tất toán xong cả gốc và lãi.
Đến ngày 28/6/2023 âm lịch, chị D vay của chị H số tiền 36.000.000đ (Ba mươi sáu triệu đồng), không lập giấy tờ, tiền lãi chị D trả cho H là 1.000.000đ/ tháng, chị D đã trả lãi cho chị H được 03 tháng là 3.000.000đ (Ba triệu đồng), chưa trả gốc. Đến tháng 10/2023 chị D mất khả năng trả nợ, nên số tiền gốc hiện nay chị D còn nợ chị H là 36.000.000đ (Ba mươi sáu triệu đồng).
Ngoài ra, chị D vay của chị H 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng), không lập giấy tờ, mỗi tháng chị D trả cho chị H 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) (gốc 3.000.000đ và lãi là 500.000đ), đã trả được 03 tháng tương ứng số tiền là 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng) (gốc 9.000.000đ, lãi 1.500.000đ), nên chị D còn nợ lại chị H 9.000.000đ (Chín triệu đồng) tiền gốc.
Tổng số tiền chị D khoanh nợ với chị H vào ngày 03/12/2023 là 135.000.000đ (một trăm ba mươi lăm triệu đồng), đã trả được 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), hai bên thống nhất chốt nợ và ký vào giấy khoanh nợ là 131.000.000đ (Một trăm ba mươi mốt triệu đồng).
Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, chị D không đồng ý, do chị D không còn nợ tiền chị H, chị D thừa nhận giữa chị D và chị H có ký giấy khoanh nợ với nội dung chị D nợ chị H số tiền 131.000.000đ (Một trăm ba mươi mốt triệu đồng), chữ ký trong giấy khoanh nợ đúng là chữ ký của chị D, nhưng do lúc này mất khả năng trả nợ, chị D bị áp lực tâm lý, bị chủ nợ ép buộc ký nên khi ký không đọc lại nội dung và quá trình chơi huê hàng tháng chị D có trả tiền lãi cho chị H, tổng tiền lãi trả cho chị H đã hơn 131.000.000đ (Một trăm ba mươi mốt triệu đồng), việc trả lãi chỉ thoả thuận bằng miệng, không có giấy tờ hoặc người làm chứng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu đã quyết định:
Áp dụng Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 26, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Phạm Thị H.
Buộc chị Trần Thị Mỹ D phải trả cho chị Phạm Thị H số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 23/9/2024, bị đơn bà Trần Thị Mỹ D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn Trần Thị Mỹ D không xuất trình được chứng cứ chứng minh đã thanh toán tiền huê cho nguyên đơn 234.000.000đ và giấy khoanh nợ ngày 03/12/2023 bị ép buộc. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn – giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của các bên đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn có đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định là kháng cáo hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Bị đơn Trần Thị Mỹ D thừa nhận nguyên đơn có chơi huê; cho bị đơn vay 02 lần – 01 lần 18.000.000đ, 01 lần 36.000.000đ; có giấy khoanh nợ ngày 03/12/2023 với số tiền 131.000.000đ như nguyên đơn trình bày. Nhưng cho rằng việc chơi huê từ năm 2020, bị đơn đã trả 234.000.000đ, còn giấy khoanh nợ là do bị ép buộc. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh nguyên đơn chơi huê từ năm 2020, số tiền bị đơn đã thanh toán tiền huê 234.000.000đ, việc khoanh nợ ngày 03/12/2023 do bị ép buộc.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể thỏa mãn với yêu cầu kháng cáo của bị đơn Trần Thị Mỹ D.
[3] Về án phí: bị đơn kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp kháng cáo của bị đơn Trần Thị Mỹ D. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 18/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu.
Về án phí dân sự phúc thẩm: bị đơn Trần Thị Mỹ D phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, đã nộp tại Biên lai số 0000564 ngày 02/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Quang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Ngô Chịu Vũ Ngọc Hà |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Q |
Bản án số 87/2024/DS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 87/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản Phạm Thị H - Trần Thị Mỹ D
