|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2023/HS-ST Ngày 27-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu
2. Ông Trịnh Ngọc Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Văn N - Sinh ngày 20/10/1978, tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Đỗ Văn N1, sinh năm 1956, con bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1957; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con đầu; Bị cáo có vợ Nguyễn Thị P, sinh năm 1982; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/10/2023 đến nay. Bị cáo cáo mặt tại phiên tòa
Bị hại: Cháu Nguyễn Phạm Minh C, sinh năm 2020 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của cháu Phạm Minh C1: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1988 (là mẹ của bị hại). Có mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Y, Thanh Hóa.
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1966. Có mặt.
- Cháu Nguyễn Phạm Bảo A, Sinh năm: 2009. Vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Phạm Phương A1, sinh năm 2011. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu Bảo A2 và cháu Phương A3: Bà Phạm Thị T2 (là mẹ đẻ của cháu Bảo A2 và cháu Phương A3). C
Cùng có địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ ngày 15/8/2023, Đỗ Văn N đến nhà bà Nguyễn Thị L ở thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa để sửa máy bơm nước. Khi đến nhà bà L, N kiểm tra và phát hiện nhà bà L mất điện nên N ra trèo lên cây cột điện có công tơ nhà bà L để kiểm tra. Qua kiểm tra, N phát hiện dây mát cầu chì bị cháy nên nối lại. Nối xong Ngữ leo thang xuống vịn tay vào cột điện thì bị điện giật. Khi đó, N nhìn thấy có dây thép phơi quần áo buộc một đầu từ cột điện vào nhà anh Nguyễn Văn N2 (con trai ông Nguyễn Ngọc M) ở cùng thôn. N cho rằng dây phơi bị nhiễm điện từ cột, lo sợ người nhà anh N2 đụng vào dây phơi sẽ bị điện giật, nên N gọi cháu Nguyễn Phạm Bảo A, sinh năm 2009 là con trai anh Nguyễn Văn N2 ra và nói “Cái dây phơi bị nhiễm điện, cho bác mượn cái kìm để tháo dây phơi không bị điện giật”. Ngữ dùng kìm tháo đầu dây phơi nối vào cột điện rồi vứt dây phơi xuống sân nhà anh N2. Sau đó, N trả kìm cho cháu Bảo A2 và dặn “Bảo với bố mẹ cột điện bên ngoài bị nhiễm điện, cẩn thận đừng cho em ra ngoài gần cột điện mà bị điện giật”. Sau đó, N đi đến nhà ông X1 ở gần đó để sửa ti vi và đường ống nước. Lúc sau, cháu Bảo A2 xuống dưới bếp giặt quần áo, cháu Nguyễn Phạm Phương A1, sinh năm 2011 con gái anh N2 đang quét nhà, còn cháu Nguyễn Phạm Minh C, sinh năm 2020 con gái út anh N2 đang chơi ở sân. Khi đang quét nhà, cháu Phương A3 nhìn ra sân thấy cháu Minh C nằm bất động dưới sân, tay trái cầm đoạn dây phơi. Cháu Phương A3 lại gần và sờ vào em thì bị điện giật. Lúc này cháu Phương A3 hét lên, cháu Bảo A2 nghe tiếng em hét liền chạy ra ngoài sân thấy hai em bị điện giật nên dùng đoạn gậy gỗ gạt dây phơi ra ngoài. Thấy cháu Minh C bất tỉnh nên cháu Bảo A2 bế cháu Minh C đến trạm xá xã Đ để cấp cứu. Tuy nhiên cháu Minh C đã tử vong.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Chi nhánh điện huyện Y, dùng bút thử điện để kiểm tra hệ thống cột điện, công tơ và xác định nguồn điện bị nhiễm. Kết quả phát hiện đường dây điện sau công tơ nhà ông Bùi Thế N3 chạy trên mái tôn nhà ông M, qua quá trình sử dụng đã bị mòn phần nhựa bọc bên ngoài, khiến lõi dây điện chạm vào phần mái hiên lợp bằng tôn của 2 căn nhà, làm toàn bộ phần mái tôn này đang bị nhiễm nguồn điện 220V. Một đầu dây phơi còn lại bằng thép vẫn đang được buộc vào thanh kim loại xà gồ của gian nhà số B, nên dây đoạn dây phơi bằng thép khi N3 thả xuống sân vẫn đang bị nhiễm điện 220V. Phần dưới và một phần thân dây thép được thả xuống tiếp xúc với vườn cây, nền sân. Trên dây thép có vết than hóa, biến đổi màu sắc kim loại thành màu đen, có kích thước 5cm, mặt bám dính chất cháy màu đen dạng da người. Dùng bút thử điện kiểm tra tình trạng cột, dây dẫn và hộp công tơ không có điện rò, vẫn đang đảm bảo an toàn vận hành.
Khám ngoài tử thi cháu Nguyễn Phạm Minh C có các dấu vết sau: Lưỡi thè năm giữa 2 cung răng; có vết phồng rộp cháy xém, bong chóc tổ chức da không liên tục, không rõ hình, kích thước 6.2cm x 2.5cm tại mặt mu ngón cái bàn tay trái, khe giữa ngón cái và ngón trỏ bàn tay trái, mặt trong ngón trỏ, ngón giữa, ngón nhẫn bàn tay trái và phần giáp các ngón tay với lòng bàn tay trái. Nền vết cháy xém khô, chắc.
Bản kết luận giám định mô bênh học 6237/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của V Bộ C2 kết luận: hình ảnh mô da tổn thương do bỏng điện, phổi xung huyết, xuất huyết phù phế nang rải rác; cơ tim xung huyết, thoái hóa, lượn sóng; gan dạ dày xung huyết.
Tại Bản kết luận giám định số 3397/KLGĐTT-PC09 ngày 25/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của cháu Nguyễn Phạm Minh C: Suy hô hấp, suy tuần hoàn do cơ thể tác động với dòng điện.
Về vật chứng của vụ án: Khi khám nghiệm hiện trường đã thu giữ: 01 đoạn dây thép li dài 12,05m. Hiện đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình cháu Nguyễn Phạm Minh C số tiền 100.000.000 đồng. Chị Phạm Thị T (mẹ đẻ cháu C) đã nhận đủ số tiền nêu trên và không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKSYĐ ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố Đỗ Văn N về tội “Vô ý làm chết người” theo tại khoản 1 Điêu 128 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Đỗ Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 128, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn N từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn dây thép li dài 12,05m. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo và đại diện bị hại không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện bị hại là chị T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y; Hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Nhận định về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Thông qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Đỗ Văn N thừa nhận: Khoảng 08 giờ ngày 15/8/2023, Đỗ Văn N đến nhà bà Nguyễn Thị L tại thôn C, xã Đ, huyện Y để sửa máy bơm nước. Do nhà bà L mất điện do dây mát cầu chì bị cháy nên N nối lại. Nối xong Ngữ leo thang xuống vịn tay vào cột điện thì bị điện giật. Khi đó, N nhìn thấy có dây thép phơi quần áo buộc một đầu từ cột điện vào nhà anh Nguyễn Văn N2 ở cùng thôn. N cho rằng dây phơi bị nhiễm điện từ cột, lo sợ người nhà anh N2 đụng vào dây phơi sẽ bị điện giật, nên N dùng kìm tháo đầu dây phơi nối vào cột điện rồi vứt dây phơi xuống sân nhà anh N2. Tuy nhiên nguồn điện bị nhiễm không phải ở cây cột điện mà đường dây điện sau công tơ trên hiên lợp bằng tôn của 2 căn nhà Một đầu dây phơi còn lại bằng thép vẫn đang được buộc vào thanh kim loại xà gồ của gian nhà số B, nên dây đoạn dây phơi bằng thép khi N thả xuống sân vẫn đang bị nhiễm điện 220V. Như vậy Đỗ Văn N không xác định chính xác nơi nguồn điện bị nhiễm nên đã tự ý cắt một đầu dây phơi bị nhiễm điện thả xuống sân, làm cháu Nguyễn Phạm Minh C, sinh năm 2020 (con gái anh N2 chị T) chơi ở sân cầm vào dây phơi và bị điện giật dẫn đến tử vong.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ chứng minh hành vi vô ý do cẩu thả dẫn đến cái chết do điện giật của cháu Nguyễn Phạm Minh C.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đỗ văn N4 phạm tội “Vô ý làm chết người”. Tội phạm đã chính thức được thành lập đối với bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quan hệ pháp luật xâm phạm:
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần thiết phải xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, để giáo dục bị cáo thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, nên bị cáo được được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo ở ngoài cộng đồng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đại diện bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo để giáo dục mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 100.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ : 01 đoạn dây thép li dài 12,05m. Đây là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 128 tuyên bố bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Vô ý làm chết người”.
Áp dụng khoản 1 Điều 128; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Văn N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại. Việc bồi thường đã thực hiện xong.
4. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn dây thép li dài 12,05m. (Theo phiếu nhập kho số NK 19 ngày 30/11/2023 Của Chi cục THADS huyện Y)
5. Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Thắng |
6
Bản án số 87/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về vô ý làm chết người
- Số bản án: 87/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vô ý làm chết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn N phạm tội "Vô ý làm chết người"
